Mở thêm thị trường, tăng thêm dư địa

Bảy tháng đầu năm 2026, xuất khẩu rau quả của Việt Nam ước đạt 4,76 tỷ USD, tăng 23% so với cùng kỳ năm 2025. Trong cơ cấu xuất khẩu, sầu riêng tiếp tục là một trong những mặt hàng đóng góp lớn nhất, chiếm hơn 50% tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả, theo ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam.

Triển vọng những tháng cuối năm được đánh giá tích cực khi khu vực Tây Nguyên, vùng sản xuất sầu riêng trọng điểm, bắt đầu bước vào chính vụ. Nguồn cung tăng trong thời điểm nhu cầu xuất khẩu vẫn duy trì có thể tạo thêm động lực cho kim ngạch cả năm.

Theo ông Đặng Phúc Nguyên, nếu thị trường tiếp tục thuận lợi và nguồn cung được kiểm soát tốt, xuất khẩu sầu riêng năm 2026 có khả năng vượt 4 tỷ USD.

Sầu riêng Tây Nguyên bước vào chính vụ, nguồn cung tăng tạo thêm dư địa để xuất khẩu sầu riêng Việt Nam hướng tới mốc 4 tỷ USD trong năm 2026.
Sầu riêng Tây Nguyên bước vào chính vụ, nguồn cung tăng tạo thêm dư địa để xuất khẩu sầu riêng Việt Nam hướng tới mốc 4 tỷ USD trong năm 2026.

Cơ hội mới cũng đến từ Ấn Độ. Cuối tháng 7/2026, Chính phủ Ấn Độ cho phép nhập khẩu sầu riêng tươi từ Việt Nam, mở thêm một hướng tiêu thụ bên cạnh các thị trường truyền thống.

Đây là thị trường có quy mô dân số rất lớn, nhưng doanh nghiệp không thể kỳ vọng sức mua tăng mạnh ngay lập tức. Sầu riêng vẫn chưa phải loại trái cây phổ biến với phần đông người tiêu dùng Ấn Độ. Giá bán, thuế nhập khẩu, khả năng bảo quản và hệ thống phân phối sẽ là những yếu tố quyết định khả năng mở rộng thị trường.

Do đó, trong giai đoạn đầu, sầu riêng Việt Nam nhiều khả năng sẽ tập trung vào các đô thị lớn, hệ thống bán lẻ cao cấp, khách sạn, nhà hàng, cửa hàng trái cây nhập khẩu và thương mại điện tử.

Cùng với sầu riêng tươi, sản phẩm đông lạnh và chế biến cũng có thể giúp doanh nghiệp tiếp cận người tiêu dùng Ấn Độ theo cách phù hợp hơn. Đây còn là phương án giảm áp lực tiêu thụ trong nước và hạn chế rủi ro khi sản lượng tăng mạnh vào chính vụ.

Việc có thêm thị trường vì vậy tạo ra dư địa tăng trưởng, nhưng cũng đặt doanh nghiệp trước yêu cầu phải hiểu rõ từng thị trường, thay vì chỉ tập trung vào sản lượng xuất khẩu.

Mã số vùng trồng phải đi cùng chất lượng

Cùng với câu chuyện thị trường, vấn đề đáng chú ý nhất đối với sầu riêng hiện nay là khả năng kiểm soát vùng nguyên liệu.

Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP có hiệu lực đã tạo thay đổi trong việc cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Hồ sơ được thực hiện qua Cổng dịch vụ công quốc gia và giải quyết tại UBND cấp xã, góp phần rút ngắn thời gian xử lý thủ tục.

Tuy nhiên, thủ tục nhanh hơn không đồng nghĩa tiêu chuẩn xuất khẩu thấp hơn. Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp, mã số vùng trồng chỉ là một trong những điều kiện tối thiểu để nông sản đáp ứng yêu cầu xuất khẩu; cùng với đó phải có quy trình sản xuất đạt chuẩn và nhật ký ghi chép đầy đủ.

Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh diện tích sầu riêng tăng nhanh. Tại Đắk Lắk, địa phương hiện có khoảng 44.000 ha sầu riêng, sản lượng niên vụ 2026 ước đạt 500.000 tấn. Tỉnh đã có 280 mã số vùng trồng với khoảng 7.500 ha và 42 mã số cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu.

Ngoài ra, 165 vùng trồng với diện tích gần 4.915 ha cùng 66 cơ sở đóng gói đang chờ phía Trung Quốc thẩm định, phê duyệt.

Quy mô lớn mở ra cơ hội nâng kim ngạch, nhưng đồng thời khiến bài toán quản lý trở nên phức tạp hơn. Vùng sản xuất còn manh mún, tình trạng trồng xen và sự khác biệt trong quy trình canh tác có thể gây khó khăn cho việc kiểm soát đồng nhất chất lượng.

Đáng chú ý, khi giá sầu riêng tăng cao, nguy cơ tranh mua, thu hoạch không đúng độ chín hoặc phá vỡ hợp đồng liên kết cũng có thể xuất hiện. Những vấn đề này không chỉ ảnh hưởng tới nông dân và doanh nghiệp mà còn tác động trực tiếp tới khả năng duy trì chất lượng và uy tín của sầu riêng Việt Nam.

Đắk Lắk đang thúc đẩy liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp để tổ chức lại vùng nguyên liệu. Tỉnh hiện có 28 hợp tác xã chuyên sản xuất sầu riêng và 185 hợp tác xã nông nghiệp ký hợp đồng liên kết với doanh nghiệp. Bảy doanh nghiệp bước đầu xây dựng chuỗi khép kín từ vùng trồng đến sơ chế, đóng gói.

Theo ông Nguyễn Thiên Văn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk, địa phương đang rà soát các vùng sản xuất tập trung, đẩy nhanh việc cấp mã số nhưng đồng thời tăng cường quản lý những mã số đang hoạt động. Các khâu thu mua, bảo quản, sơ chế và chế biến cũng cần được phối hợp để hạn chế nguy cơ ùn ứ hoặc đứt gãy chuỗi cung ứng khi vào cao điểm thu hoạch.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang hỗ trợ Đắk Lắk, Gia Lai và Lâm Đồng số hóa dữ liệu, hoàn thiện hồ sơ mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói.

Với sầu riêng Việt Nam, mốc 4 tỷ USD vì thế không chỉ phụ thuộc vào diện tích và sản lượng. Khả năng duy trì tăng trưởng còn nằm ở việc tổ chức được vùng nguyên liệu ổn định, kiểm soát chất lượng từ vườn đến nhà máy, tăng năng lực bảo quản và chế biến, đồng thời xây dựng liên kết đủ chặt giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp.

Nếu làm tốt những khâu này, việc mở rộng thị trường sẽ tạo ra giá trị dài hạn thay vì chỉ mang lại một mùa xuất khẩu cao điểm. Khi đó, 4 tỷ USD không chỉ là cột mốc về kim ngạch, mà còn là phép thử đối với năng lực trưởng thành của cả chuỗi sầu riêng Việt Nam.

Minh Thành (t/h)