Từ tháo gỡ thủ tục đến chuẩn hóa vùng nguyên liệu

Vừa qua, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng chủ trì cuộc họp về tình hình thực hiện Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP của Chính phủ về đơn giản hóa thủ tục hành chính đối với mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, gắn với tiêu thụ và xuất khẩu sầu riêng.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, sầu riêng đang trở thành một trong những ngành hàng có giá trị kinh tế cao. Diện tích sầu riêng cả nước năm 2026 ước khoảng 200.000 ha, trong đó diện tích cho sản phẩm khoảng 129.500 ha, sản lượng dự kiến 2,08 triệu tấn. Quy mô này đã tăng gấp đôi so với diện tích khoảng 100.000 ha từng được quy hoạch trước đây.

Trong 7 tháng đầu năm, cả nước đã thu hoạch khoảng 768.000 tấn. Từ tháng 8 đến tháng 12, sản lượng còn lại dự kiến khoảng 1,3 triệu tấn, tập trung chủ yếu tại Tây Nguyên. Riêng Đắk Lắk dự kiến khoảng 500.000 tấn, Lâm Đồng 300.000 tấn và Gia Lai 58.000 tấn.

Sầu riêng Việt Nam đang đứng trước cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu, song cần kiểm soát chặt chất lượng, truy xuất nguồn gốc và xây dựng thương hiệu để nâng giá trị ngành hàng. Ảnh: Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam.
Sầu riêng Việt Nam đang đứng trước cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu, song cần kiểm soát chặt chất lượng, truy xuất nguồn gốc và xây dựng thương hiệu để nâng giá trị ngành hàng. Ảnh: Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam.

Sản lượng lớn tập trung trong thời gian ngắn tạo áp lực đáng kể lên khâu thu hoạch, kiểm nghiệm, sơ chế, bảo quản và logistics. Nếu không tổ chức tốt chuỗi cung ứng, nguy cơ ùn ứ, giảm chất lượng và gia tăng chi phí trong mùa cao điểm có thể ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của người trồng và doanh nghiệp.

Trong bối cảnh đó, Nghị quyết 36 được kỳ vọng tạo thêm thuận lợi cho các vùng sản xuất và cơ sở đóng gói, đồng thời rút ngắn những khâu thủ tục không cần thiết. Tuy nhiên, đơn giản hóa thủ tục không đồng nghĩa với nới lỏng tiêu chuẩn. Ngược lại, yêu cầu đặt ra là phải chuyển mạnh sang quản lý dựa trên dữ liệu, hậu kiểm và trách nhiệm của từng chủ thể trong chuỗi.

Đây cũng là lý do Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang phối hợp với các địa phương triển khai Nghị quyết tại những vùng sầu riêng lớn như Đắk Lắk, Lâm Đồng, Gia Lai và Quảng Ngãi, nhất là trong thời điểm các địa phương bước vào vụ thu hoạch chính.

Cùng với cấp và quản lý mã số vùng trồng, năng lực kiểm nghiệm cũng được xác định là một mắt xích quan trọng. Hiện có 50 phòng kiểm nghiệm được Tổng cục Hải quan Trung Quốc chấp thuận, trong đó 47 phòng kiểm Cadimi và 39 phòng kiểm Vàng O. Công suất kiểm nghiệm đạt khoảng 13.000 mẫu/ngày đối với Cadimi và 10.000 mẫu/ngày đối với Vàng O.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, năng lực kiểm nghiệm cơ bản đáp ứng nhu cầu, kể cả trong thời điểm cao điểm khi sản lượng xuất khẩu có thể lên tới 800-900 lô hàng/ngày. Vấn đề cần cải thiện là cách thức vận hành, trong đó Việt Nam đang hướng tới kiểm nghiệm ngay tại vùng trồng và cơ sở đóng gói để chủ động kiểm soát chất lượng.

Không chỉ bán quả tươi, phải xây dựng thương hiệu sầu riêng Việt

Trong 7 tháng năm 2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 493.000 tấn sầu riêng, đạt giá trị khoảng 950,7 triệu USD, tăng 31% so với cùng kỳ năm trước. Sầu riêng Việt Nam hiện đã có mặt tại hơn 20 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Đáng chú ý, thị trường xuất khẩu tiếp tục được mở rộng khi Ấn Độ chính thức mở cửa cho sầu riêng tươi Việt Nam trong tháng 7. Các cuộc đàm phán với Australia, New Zealand và một số thị trường khác cũng đang được thúc đẩy.

Những diễn biến này tạo cơ sở để ngành sầu riêng hướng tới mục tiêu xuất khẩu trên 4 tỷ USD trong năm 2026. Tuy nhiên, phía sau con số tăng trưởng là bài toán lớn hơn: làm thế nào để biến lợi thế về sản lượng thành giá trị bền vững.

Thực tế, diện tích tăng nhanh nhưng liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp chưa tương xứng. Xuất khẩu vẫn chủ yếu dựa vào sản phẩm quả tươi, trong khi công nghệ bảo quản, chế biến sâu và năng lực xây dựng thương hiệu còn hạn chế.

Nếu tiếp tục chạy theo mở rộng diện tích mà không gắn với nhu cầu thị trường, ngành hàng có thể đối mặt với nguy cơ dư cung, giá giảm và khó kiểm soát chất lượng. Vì vậy, yêu cầu trước mắt không phải là trồng thêm bao nhiêu diện tích mà là tổ chức lại những vùng trồng hiện có theo hướng phù hợp với điều kiện sản xuất, tiêu chuẩn thị trường và năng lực tiêu thụ.

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu rà soát, tổ chức lại quy hoạch vùng trồng, không để xảy ra tình trạng người dân mở rộng diện tích tự phát. Doanh nghiệp xuất khẩu cũng cần nâng cao trách nhiệm, gắn kết với nông dân và địa phương, tổ chức sản xuất minh bạch, đồng thời cùng xây dựng thương hiệu sầu riêng Việt Nam.

Cùng với chất lượng và truy xuất nguồn gốc, hạ tầng sau thu hoạch cũng cần được đầu tư mạnh hơn. Các cơ sở sơ chế, bảo quản và chế biến cần được phát triển ngay tại những vùng sản xuất tập trung, qua đó giảm áp lực tiêu thụ khi vào chính vụ và nâng tỷ trọng sản phẩm chế biến.

Đây là bước chuyển cần thiết nếu ngành sầu riêng muốn giảm sự phụ thuộc vào xuất khẩu quả tươi. Khi có thêm sản phẩm đông lạnh, chế biến và các sản phẩm giá trị gia tăng, doanh nghiệp sẽ có nhiều phương án tiếp cận thị trường, đồng thời hạn chế rủi ro khi một thị trường thay đổi chính sách nhập khẩu.

Về thị trường, Phó Thủ tướng yêu cầu tiếp tục thúc đẩy mở cửa các thị trường lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, UAE và những thị trường có tiềm năng tiêu thụ. Song song với đàm phán mở cửa, cơ quan quản lý cần tăng cường dự báo, cập nhật tiêu chuẩn và nhu cầu từng thị trường để doanh nghiệp và người dân chủ động điều chỉnh sản xuất.

Mục tiêu trên 4 tỷ USD vì thế không chỉ là câu chuyện về sản lượng xuất khẩu. Quan trọng hơn, đây là cơ hội để ngành sầu riêng chuyển từ tăng trưởng dựa vào diện tích và sản lượng sang cạnh tranh bằng chất lượng, thương hiệu và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế.

Việc tháo gỡ rào cản về thủ tục mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói mới là bước đầu. Để đi xa hơn, ngành hàng cần một chuỗi liên kết chặt chẽ từ vùng nguyên liệu, kiểm nghiệm, thu hoạch, bảo quản, chế biến đến xuất khẩu. Khi mỗi mắt xích cùng chịu trách nhiệm về chất lượng và thương hiệu, sầu riêng Việt Nam mới có thể duy trì tốc độ tăng trưởng cao mà không đánh đổi bằng rủi ro về chất lượng và thị trường.

Minh Thành (t/h)