Tại cuộc làm việc với NHNN và hệ thống các tổ chức tín dụng ngày 13/8, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng yêu cầu điều hành tăng trưởng tín dụng chủ động, linh hoạt, bảo đảm vốn đến đúng lĩnh vực, đúng thời điểm, đúng đối tượng và đúng mục đích với chi phí hợp lý.

Điểm đáng chú ý trong chỉ đạo lần này là tín dụng không được nhìn đơn thuần qua tốc độ tăng trưởng. Trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức cao, điều quan trọng hơn là chất lượng của phần tín dụng tăng thêm và khả năng chuyển hóa nguồn vốn thành sản xuất, đầu tư, việc làm và năng suất.

Theo đó, mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2026 vẫn phải được bám sát, nhưng không nên được hiểu như một giới hạn cứng trong mọi thời điểm. NHNN được yêu cầu thường xuyên cập nhật diễn biến kinh tế để điều chỉnh liều lượng, thời điểm và cường độ sử dụng các công cụ tiền tệ.

Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu điều hành tín dụng chủ động, linh hoạt, bảo đảm dòng vốn được phân bổ đúng lĩnh vực, đúng đối tượng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng nhưng vẫn giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô. Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc
Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu điều hành tín dụng chủ động, linh hoạt, bảo đảm dòng vốn được phân bổ đúng lĩnh vực, đúng đối tượng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng nhưng vẫn giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô. Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Cách điều hành này mở thêm dư địa cho hệ thống ngân hàng phản ứng với nhu cầu vốn thực tế. Khi nền kinh tế cần vốn để mở rộng sản xuất, đầu tư hoặc triển khai những dự án quan trọng, tín dụng cần được cung ứng kịp thời; ngược lại, khi xuất hiện dấu hiệu rủi ro, dòng vốn phải được kiểm soát phù hợp.

Dòng vốn phải tìm đến khu vực tạo tăng trưởng

Điều đáng quan tâm hơn cả là hướng đi của dòng tiền. Thủ tướng yêu cầu ưu tiên tín dụng cho sản xuất, xuất khẩu, công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp, đổi mới sáng tạo, nhà ở xã hội, hạ tầng thiết yếu và các dự án quan trọng, trọng điểm quốc gia.

Điều này cho thấy tư duy điều hành đang chuyển từ câu hỏi “tăng tín dụng bao nhiêu?” sang “tín dụng tạo ra giá trị gì?”.

Một mức tăng tín dụng cao nhưng chủ yếu chảy vào những khu vực ít tạo thêm năng lực sản xuất sẽ không tạo ra hiệu quả tương ứng. Ngược lại, nguồn vốn được đưa vào doanh nghiệp có khả năng mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ, nâng năng suất hoặc tăng năng lực xuất khẩu có thể tạo hiệu ứng lan tỏa lớn hơn đối với nền kinh tế.

Đây cũng là lý do Thủ tướng yêu cầu lượng hóa và thường xuyên đánh giá “điểm cân bằng” giữa kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng. Các yếu tố như lãi suất, tỷ giá, cung tiền, thanh khoản và tín dụng cần được đặt trong những kịch bản cụ thể, thay vì điều hành theo một chỉ tiêu đơn lẻ.

Trong đó, mặt bằng lãi suất tiếp tục là một mắt xích quan trọng. NHNN được yêu cầu duy trì các mức lãi suất điều hành phù hợp, tăng cường cung ứng thanh khoản cho thị trường; các ngân hàng thương mại phải tiếp tục tiết giảm chi phí và giảm thực chất lãi suất cho vay.

Nếu chi phí vốn vẫn cao, việc mở rộng tín dụng chưa chắc tạo ra sức bật tương ứng. Doanh nghiệp có thể tiếp cận được khoản vay nhưng không đủ khả năng sử dụng vốn hiệu quả. Vì vậy, giảm chi phí vốn phải đi cùng với phân bổ vốn đúng đối tượng.

Một hướng khác cũng được đặt ra là giảm sự phụ thuộc quá lớn của nền kinh tế vào tín dụng ngân hàng. Thủ tướng yêu cầu đẩy mạnh phát triển thị trường vốn và trái phiếu doanh nghiệp nhằm bổ sung nguồn vốn trung và dài hạn.

Điều này đặc biệt quan trọng khi nhu cầu vốn cho hạ tầng, công nghệ, sản xuất quy mô lớn và các dự án dài hạn ngày càng tăng. Nếu tất cả nhu cầu vốn đều dồn lên hệ thống ngân hàng, áp lực về thanh khoản, kỳ hạn và rủi ro tín dụng sẽ lớn hơn.

Bên cạnh mở rộng khả năng cung ứng vốn, yêu cầu nâng chất lượng hệ thống cũng được đặt ra rõ ràng. NHNN được giao tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, xử lý tổ chức tín dụng yếu kém, tăng cường năng lực tài chính và đẩy mạnh giám sát từ sớm, từ xa.

Các rủi ro liên quan đến sở hữu, cấp tín dụng, quản lý vốn vay và tuân thủ các giới hạn an toàn cần được kiểm soát chặt chẽ. Tăng tín dụng nhưng để nợ xấu hoặc rủi ro hệ thống gia tăng sẽ làm suy giảm chính nền tảng mà chính sách tiền tệ đang cố gắng hỗ trợ.

Đặc biệt, trong quá trình số hóa ngân hàng, yêu cầu an toàn cũng phải đi cùng tốc độ hiện đại hóa. Tội phạm công nghệ cao, gian lận trực tuyến và lừa đảo tài chính đang tạo thêm những rủi ro mới, buộc các tổ chức tín dụng phải nâng cấp hệ thống bảo mật, quản trị dữ liệu và kiểm soát nội bộ.

Nếu thực hiện được cách tiếp cận này, tín dụng sẽ không chỉ đóng vai trò “bơm thêm tiền” cho nền kinh tế mà trở thành công cụ phân bổ nguồn lực cho những động lực tăng trưởng mới.

Đó cũng là bài toán khó hơn đối với ngành ngân hàng trong giai đoạn 2026-2030: vừa mở rộng khả năng cung ứng vốn, vừa giữ chi phí hợp lý; vừa hỗ trợ tăng trưởng, vừa kiểm soát lạm phát; và quan trọng nhất,biến mỗi đồng vốn tín dụng thành một phần của năng lực tăng trưởng bền vững thay vì chỉ là sự gia tăng về quy mô tín dụng.

Minh Thành (t/h)