Không để người dân mất đất trước khi có nơi ở và sinh kế mới
Tại phiên thảo luận ngày 21/8 về định hướng sửa đổi Luật Đất đai năm 2024, các nội dung liên quan đến thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tiếp tục được Quốc hội tập trung làm rõ. Nhiều đề xuất hướng tới việc hoàn thiện chính sách theo hướng bảo đảm tốt hơn quyền lợi của người dân, nhất là về chỗ ở, sinh kế và tính minh bạch trong quá trình bồi thường, tái định cư.
Thay vì chỉ xác định mức bồi thường đối với tài sản bị mất, các đại biểu đề nghị chính sách phải hướng tới việc bảo đảm người dân có thể duy trì cuộc sống sau khi rời khỏi nơi ở cũ.
Đại biểu Nguyễn Đại Thắng (Đoàn Hưng Yên) đề nghị cụ thể hóa yêu cầu tái thiết cuộc sống, bảo đảm người có đất bị thu hồi có nơi ở, điều kiện sống và sinh kế bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ. Trong các phương án bồi thường, cần ưu tiên bố trí đất có cùng mục đích sử dụng hoặc nhà ở tại nơi tái định cư; bồi thường bằng tiền chỉ thực hiện khi không đủ quỹ đất, quỹ nhà phù hợp hoặc theo nguyện vọng của người bị thu hồi.

Đối với người trực tiếp sản xuất nông nghiệp, việc bồi thường và hỗ trợ cũng cần gắn với khả năng chuyển đổi nghề nghiệp, tiếp cận hạ tầng hoặc tạo dựng sinh kế mới. Nếu chỉ giải quyết phần tài sản mà không tính đến nguồn thu nhập sau thu hồi, người dân có thể đối mặt với khó khăn kéo dài ngay cả khi đã nhận tiền bồi thường.
Đại biểu Triệu Thị Ngọc Diễm (Đoàn TP. Cần Thơ) đề nghị việc đánh giá hiệu quả tái định cư phải vượt ra ngoài các tiêu chí về đường, điện, nước. Chỗ ở mới cần được xem xét đồng thời với việc làm, thu nhập, sinh kế và khả năng tiếp cận các dịch vụ thiết yếu.
Theo hướng này, cơ quan tổ chức tái định cư cần có trách nhiệm theo dõi điều kiện sống của người dân sau khi chuyển đến nơi ở mới. Nếu việc làm, thu nhập hoặc khả năng tiếp cận hạ tầng chưa bảo đảm, cần có phương án hỗ trợ bổ sung thay vì kết thúc trách nhiệm ngay sau khi bàn giao nhà hoặc đất.
Đại biểu Tạ Văn Hạ (Đoàn TP. Đà Nẵng) cũng đặt vấn đề về tác động thực tế của việc thu hồi đất đối với từng gia đình. Khi chỗ ở bị thay đổi, những vấn đề phát sinh có thể liên quan đến việc học của con cái, việc làm, cuộc sống của người cao tuổi và khả năng duy trì sinh kế.
Từ đó, yêu cầu đẩy nhanh tiến độ dự án không nên được đặt tách rời với việc bảo đảm quyền lợi của người bị thu hồi đất.
Đại biểu Nguyễn Văn Huy (Đoàn Hưng Yên) đề nghị rà soát quy định tại khoản 3 Điều 36 liên quan đến việc quyết định thu hồi đất theo tiến độ dự án đầu tư hoặc tiến độ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Theo đại biểu, nếu cách quy định này không được làm rõ, có thể phát sinh cách hiểu rằng tiến độ dự án là căn cứ để thúc đẩy thu hồi đất ngay cả khi việc bố trí nơi ở mới chưa hoàn tất. Vì vậy, cần thiết lập nguyên tắc người dân không rơi vào tình trạng đã mất quyền sử dụng đất, không còn nhà ở nhưng chưa được bố trí nơi ở phù hợp.
Đối với đất sản xuất, kinh doanh và đất nông nghiệp, phương án khôi phục hoặc chuyển đổi sinh kế cũng cần được xác định trước khi thực hiện thu hồi.
Giá bồi thường phải giải trình được, tái định cư phải phù hợp cuộc sống
Bên cạnh chỗ ở và sinh kế, giá bồi thường tiếp tục là vấn đề có ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ đồng thuận của người dân.
Đại biểu Thạch Phước Bình (Đoàn Vĩnh Long) cho rằng cơ chế xác định giá bồi thường tại Điều 72 và Điều 76 cần được tăng tính minh bạch, đặc biệt trong trường hợp bảng giá đất và hệ số điều chỉnh giá đất được sử dụng làm căn cứ tính tiền bồi thường.
Theo đó, người dân cần có khả năng tiếp cận những thông tin cơ bản liên quan đến nguồn dữ liệu, thời điểm sử dụng dữ liệu, căn cứ xác định hệ số điều chỉnh và các yếu tố chính hình thành mức giá. Việc công khai không chỉ giúp người dân biết số tiền được nhận mà còn có thể hiểu cơ sở hình thành mức bồi thường.
Với những trường hợp phải di chuyển nhưng chưa được bàn giao nhà hoặc đất tái định cư, cần có cơ chế tạm cư rõ ràng. Phương án bồi thường phải xác định thời hạn dự kiến bàn giao, mức hỗ trợ thuê nhà và trách nhiệm xử lý nếu việc bàn giao bị chậm.
Nếu chậm bàn giao không xuất phát từ phía người dân, mức hỗ trợ tạm cư cần được tính toán phù hợp với giá thuê thực tế và thời gian phải chờ đợi.
Các tiêu chí về tái định cư cũng cần được mở rộng. Một nơi ở mới không thể chỉ được đánh giá bằng diện tích hoặc giá trị tài sản mà phải tính đến quy mô hộ gia đình, trường học, y tế, giao thông, việc làm và khả năng duy trì sinh kế.
Đối với những hộ mất nguồn thu nhập chính do thu hồi đất, chính sách hỗ trợ cần cụ thể hơn, có thể bao gồm đào tạo nghề, kết nối việc làm, hỗ trợ tín dụng, chuyển đổi mô hình sản xuất kinh doanh hoặc bố trí địa điểm phù hợp để tiếp tục hoạt động.
Đáng chú ý, việc đánh giá hiệu quả chính sách cũng cần chuyển từ thời điểm chi trả bồi thường sang giai đoạn sau tái định cư. Người dân đã thực sự ổn định chưa, thu nhập có được duy trì hay không, trẻ em có tiếp tục học tập thuận lợi và người dân có tiếp cận được dịch vụ y tế, việc làm hay không là những chỉ số cần được xem xét.
Địa phương cũng cần chủ động dự báo nhu cầu tái định cư trung hạn, chuẩn bị quỹ đất và quỹ nhà gắn với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, chương trình phát triển nhà ở và kế hoạch đầu tư công.
Từ các ý kiến tại nghị trường, yêu cầu đối với chính sách thu hồi đất đang được đặt theo hướng toàn diện hơn: không chỉ giải quyết quyền lợi tại thời điểm người dân giao đất mà phải bảo đảm khả năng ổn định cuộc sống về sau. Khi giá bồi thường được xác định minh bạch, nơi ở mới phù hợp và sinh kế được tính toán cụ thể, quá trình thu hồi đất sẽ có thêm cơ sở để tạo đồng thuận và hạn chế những hệ lụy phát sinh sau tái định cư.
Minh Thành (t/h)






















