
Theo dự thảo, đến năm 2030, tỷ lệ đô thị hóa của Việt Nam dự kiến đạt trên 50%, trong khi tầm nhìn đến năm 2050 sẽ đạt khoảng 70–75%. Hệ thống đô thị được định hướng phát triển theo chiều sâu, nâng cao chất lượng, hiệu quả sử dụng đất và tính bền vững, thay vì mở rộng dàn trải như trước.
Các mô hình đô thị nén, phát triển theo định hướng giao thông công cộng (TOD) và tối ưu hóa không gian sẽ được ưu tiên triển khai. Song song với đó, khu vực nông thôn được đặt mục tiêu phát triển toàn diện, nâng cao thu nhập và chất lượng sống, từng bước hoàn thiện hệ thống hạ tầng thiết yếu và trung tâm nông thôn.
Thực tế cho thấy, trong giai đoạn vừa qua, hệ thống đô thị và nông thôn Việt Nam đã có bước phát triển đáng kể. Tỷ lệ đô thị hóa tăng từ 30,5% năm 2010 lên khoảng 45% vào năm 2025; số lượng đô thị tăng lên khoảng 900, hình thành mạng lưới tương đối đầy đủ theo các cấp. Các đô thị ngày càng khẳng định vai trò là động lực tăng trưởng, trong khi khu vực nông thôn được đầu tư cải thiện về hạ tầng và điều kiện sống.
Tuy nhiên, bước sang giai đoạn mới, cách tiếp cận quy hoạch truyền thống đang bộc lộ nhiều hạn chế. Hệ thống đô thị không còn phát triển theo các điểm riêng lẻ mà chuyển sang mô hình liên kết vùng, hình thành các cụm, chùm và chuỗi đô thị gắn với hành lang kinh tế. Đồng thời, ranh giới giữa đô thị và nông thôn ngày càng mờ nhạt khi nhiều khu vực nông thôn chuyển đổi sang mô hình đa chức năng, vừa sản xuất, vừa sinh thái, vừa đóng vai trò dự trữ phát triển.
Cùng với đó, sự xuất hiện của các không gian chuyển tiếp giữa đô thị và nông thôn đặt ra yêu cầu mới trong quản lý và quy hoạch. Những khu vực này mang tính chất “lai”, tích hợp cả yếu tố đô thị và nông thôn nhưng chưa được xác định rõ vai trò, chức năng trong hệ thống hiện hành, dẫn đến lúng túng trong tổ chức phát triển và khai thác hiệu quả nguồn lực.
Bên cạnh những thành tựu, chất lượng phát triển đô thị vẫn còn không ít bất cập. Nhiều khu vực phát triển thiếu kiểm soát, không gian đô thị dàn trải, hiệu quả sử dụng đất chưa tương xứng với tiềm năng. Khu vực nông thôn, dù được cải thiện, nhưng vẫn thiếu liên kết và chưa phát huy đầy đủ vai trò trong cấu trúc phát triển chung.
Trên cơ sở đó, dự thảo quy hoạch đề xuất tổ chức lại không gian phát triển theo hướng mạng lưới đa trung tâm, đa cực, gắn kết chặt chẽ giữa các vùng và giữa đô thị với nông thôn. Các đô thị sẽ phát triển dọc theo các hành lang kinh tế và trục hạ tầng chiến lược như cảng biển, sân bay, cửa khẩu quốc tế, trung tâm logistics, qua đó hình thành các cực tăng trưởng có khả năng lan tỏa.
Đáng chú ý, các đô thị lớn sẽ được mở rộng theo mô hình vùng đô thị tích hợp, bao gồm nhiều đô thị thành phần liên kết với nhau về hạ tầng, kinh tế và không gian. Các đô thị trung tâm cấp tỉnh và tiểu vùng cũng được nâng cao vai trò trong mạng lưới vùng, trong khi các đô thị chuyên ngành như công nghiệp, logistics, du lịch, cảng biển… sẽ ngày càng phát triển rõ nét.
Quá trình đô thị hóa được dự báo sẽ tiếp tục lan tỏa mạnh ra các khu vực ven đô, các hành lang phát triển và những vùng nông thôn có điều kiện thuận lợi. Điều này đòi hỏi cách tiếp cận quy hoạch linh hoạt, tích hợp và có tầm nhìn dài hạn nhằm bảo đảm phát triển hài hòa giữa đô thị và nông thôn, giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường.
Việc điều chỉnh quy hoạch lần này không chỉ nhằm khắc phục những bất cập hiện hữu mà còn hướng tới xây dựng một hệ thống đô thị – nông thôn hiện đại, thông minh, có khả năng cạnh tranh cao, đóng vai trò nền tảng cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong giai đoạn tới.
Hậu Thạch (t/h)

























