Không để nguồn lực nằm im vì vướng thủ tục
Thay vì chỉ nhìn 4.619 dự án, đất đai tồn đọng dưới góc độ số lượng hồ sơ cần xử lý, vấn đề lớn hơn nằm ở lượng vốn, đất đai và tài sản đang chưa thể đưa vào khai thác hiệu quả. Đây cũng là lý do Chính phủ tiếp tục yêu cầu các bộ, ngành, địa phương đẩy nhanh quá trình rà soát và tháo gỡ.
Theo Công điện số 58/CĐ-TTg ngày 22/8/2026, tính đến ngày 31/7, Hệ thống 751 đã ghi nhận 4.619 dự án, đất đai có khó khăn, vướng mắc. Trong đó, 3.984 dự án đã được rà soát, phân loại thành 6 nhóm; 635 dự án vẫn chưa hoàn thành bước này.
Con số trên cho thấy khối lượng công việc còn rất lớn, nhưng đồng thời phản ánh quy mô nguồn lực đang chờ được khơi thông. Nếu các dự án được tháo gỡ đúng điểm nghẽn, nguồn đất, vốn đầu tư, cơ sở hạ tầng và tài sản liên quan có thể sớm quay trở lại nền kinh tế, thay vì tiếp tục kéo dài tình trạng đình trệ.

Tuy nhiên, quá trình xử lý hiện vẫn tồn tại nhiều điểm nghẽn. Một số địa phương cập nhật dữ liệu lên Hệ thống 751 chậm, trong khi số liệu trên hệ thống chưa hoàn toàn thống nhất với báo cáo gửi cơ quan có thẩm quyền.
Đặc biệt, với các dự án kéo dài qua nhiều giai đoạn pháp luật, việc xác định nguyên nhân và căn cứ xử lý càng phức tạp. Một số hồ sơ chưa mô tả đầy đủ tình trạng pháp lý, chưa làm rõ nguyên nhân khiến dự án đình trệ hoặc chưa xác định được vấn đề thuộc thẩm quyền của cơ quan nào.
Điều này khiến quá trình tháo gỡ có nguy cơ tiếp tục rơi vào vòng lặp: địa phương chờ hướng dẫn, bộ ngành chờ hoàn thiện hồ sơ, còn dự án tiếp tục nằm chờ.
Bởi vậy, yêu cầu lần này không chỉ là cập nhật dữ liệu mà còn hướng tới việc biến dữ liệu thành công cụ điều phối. Mỗi dự án cần được xác định rõ đang vướng ở đâu, thuộc thẩm quyền xử lý của ai và cần áp dụng cơ chế nào để có thể tiếp tục triển khai.
Rõ đầu mối, rõ trách nhiệm để đẩy nhanh tiến độ
Một trong những điểm đáng chú ý của Công điện là yêu cầu chuyển mạnh từ việc tổng hợp tình hình sang chủ động xử lý. Các bộ quản lý chuyên ngành được yêu cầu phối hợp với địa phương, tiếp cận đầy đủ hồ sơ và đưa ra hướng giải quyết đối với từng nhóm vướng mắc.
Nếu vấn đề đã có quy định pháp luật, cơ quan được giao chủ trì phải sớm hướng dẫn để địa phương tổ chức thực hiện, thay vì tiếp tục chờ thêm cơ chế. Những dự án đủ điều kiện xử lý sẽ được cập nhật, chuyển sang nhóm phù hợp trên Hệ thống 751.
Trường hợp chưa có cơ sở pháp lý, cơ quan phụ trách phải nghiên cứu phương án sửa đổi quy định hoặc đề xuất cơ chế đặc thù để cấp có thẩm quyền xem xét. Cách tiếp cận này nhằm hạn chế tình trạng một dự án bị chuyển qua nhiều cơ quan nhưng không xác định được nơi chịu trách nhiệm cuối cùng.
Nếu vướng mắc thuộc lĩnh vực của bộ, ngành khác, kiến nghị cũng phải được chuyển đúng đầu mối và cập nhật lại trên hệ thống. Như vậy, Hệ thống 751 không chỉ đóng vai trò thống kê mà còn trở thành công cụ theo dõi tiến độ xử lý.
Bộ Tài chính, với vai trò cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo 751, được giao tiếp tục theo dõi, đôn đốc và hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương cập nhật đầy đủ dữ liệu. Những dự án còn tồn tại hoặc mới phát sinh sẽ tiếp tục được phân loại để chuyển tới cơ quan có thẩm quyền xử lý.
Đáng chú ý, trách nhiệm cũng được đặt trực tiếp lên người đứng đầu. Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ và Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố phải chịu trách nhiệm trước Thủ tướng về kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao.
Bộ Tài chính sẽ định kỳ hằng tháng hoặc khi cần thiết tổng hợp tình hình, báo cáo Thủ tướng; đồng thời đề xuất biểu dương những đơn vị làm tốt và xử lý trách nhiệm đối với các trường hợp chậm trễ, không thực hiện nghiêm việc cập nhật, xử lý.
Ở góc độ rộng hơn, việc tháo gỡ 4.619 dự án không đơn thuần là giải quyết các hồ sơ tồn đọng. Đây còn là bài toán khơi thông nguồn lực cho nền kinh tế trong bối cảnh yêu cầu tăng trưởng cao đòi hỏi phải tận dụng tốt hơn những nguồn lực sẵn có.
Khi một dự án được tháo gỡ, giá trị tạo ra không chỉ nằm ở việc dự án được tiếp tục xây dựng, mà còn có thể kéo theo dòng vốn tư nhân, việc làm, nguồn thu ngân sách và hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Vì vậy, hiệu quả của chương trình 751 sẽ không chỉ được đo bằng số dự án đã rà soát, mà quan trọng hơn là bao nhiêu dự án thực sự được tháo gỡ, bao nhiêu nguồn lực được đưa trở lại thị trường và bao nhiêu giá trị kinh tế được tạo ra từ những tài sản từng bị đình trệ.
Minh Thành (t/h)






















