Tiến tới bắt buộc áp dụng
Trong bối cảnh ngành nông nghiệp đang đứng trước nhiều yêu cầu mới, vận hành hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản không còn là yêu cầu riêng lẻ mà đã trở thành xu thế tất yếu trong quản lý chất lượng và bảo vệ người tiêu dùng. Muốn phát triển bền vững, nông sản Việt Nam buộc phải xây dựng thương hiệu và đáp ứng những tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của thị trường quốc tế.
Theo Phó Thủ tướng, việc triển khai cũng đối mặt nhiều thách thức khi sản xuất nông nghiệp trong nước vẫn chủ yếu ở quy mô nhỏ lẻ, phân tán với số lượng hộ sản xuất rất lớn. Trước mắt, Phó Thủ tướng đề nghị ưu tiên triển khai truy xuất nguồn gốc đối với các ngành hàng chủ lực, sản phẩm có sản lượng lớn, giá trị kinh tế cao, phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, đặc biệt hướng đến các thị trường trọng điểm như Trung Quốc, EU và Hoa Kỳ.
Trên nền tảng đó, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, tiêu chuẩn, hạ tầng dữ liệu và Hệ thống truy xuất nguồn gốc; đồng thời từng bước mở rộng sang các nhóm sản phẩm có yêu cầu quản lý cao, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn thực phẩm hoặc phải đáp ứng các quy định nghiêm ngặt của từng thị trường.

Thiết kế hiện đại, linh hoạt
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản Việt Nam được xây dựng gồm 3 hợp phần chính là hợp phần dành cho người dân truy xuất (https://txng.mae.gov.vn hoặc tại https://mae.txng.gov.vn), hợp phần quản trị (phục vụ cơ quan quản lý, doanh nghiệp, các chủ thể tham gia chuỗi) và ứng dụng cài đặt trên điện thoại di động, thiết bị thông minh.
Hệ thống được phát triển theo kiến trúc hiện đại, hướng dịch vụ, mở rộng linh hoạt, bảo đảm vận hành liên tục, đáp ứng yêu cầu của một nền tảng dùng chung cấp quốc gia trong lĩnh vực nông nghiệp; trong đó điểm mới quan trọng của Hệ thống là khả năng xác thực, minh bạch và bảo đảm toàn vẹn dữ liệu thông qua ký số điện tử, công nghệ chuỗi khối; định danh sản phẩm theo chuẩn GS1 quốc tế, mã QR theo GS1 Digital Link; trao đổi dữ liệu theo chuẩn thống nhất, tạo điều kiện để nhiều đơn vị giải pháp cùng tham gia, không phụ thuộc vào một nhà cung cấp công nghệ riêng lẻ.
Theo kết quả kiểm thử, hệ thống có khả năng đáp ứng khoảng 1.000 lượt tra cứu/giây, 30.000 người quét tem truy xuất đồng thời, trên 85 triệu lượt quét tem truy xuất mỗi ngày và khoảng 50 bản tin dữ liệu dung lượng 2 MB/giây. Đây là cơ sở kỹ thuật quan trọng để hệ thống có thể mở rộng khi triển khai trên phạm vi toàn quốc.
Đến nay, hệ thống đã tích hợp thông tin, dữ liệu truy xuất nguồn gốc của trên 18.500 sản phẩm, thuộc 181 nhóm sản phẩm của 170 doanh nghiệp tại 24/34 tỉnh, thành phố.
Về phía đơn vị đồng hành và trực tiếp triển khai Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản, ông Tô Nguyễn Thành, đại diện Công ty Netacom cho biết, hệ thống đáp ứng yêu cầu triển khai ở quy mô quốc gia và quốc tế.

Hệ thống có khả năng kết nối hơn 500.000 đơn vị cung cấp giải pháp truy xuất nguồn gốc; phục vụ khoảng 200.000 doanh nghiệp sản xuất, chế biến và khoảng 9 triệu hộ nông dân, hợp tác xã và đáp ứng nhu cầu lưu trữ khoảng 1,5 tỷ sản phẩm phát sinh mỗi năm. Đồng thời, hệ thống có khả năng xử lý khoảng 7,7 tỷ lượt quét truy xuất mỗi năm.
Ở góc độ doanh nghiệp, đại diện Công ty Masan MEATLife cho biết, truy xuất nguồn gốc không chỉ là yêu cầu quản lý mà còn là nền tảng xây dựng niềm tin với người tiêu dùng. Hiện doanh nghiệp đã áp dụng truy xuất đối với 100% sản phẩm thịt, số hóa toàn bộ dữ liệu chuỗi sản xuất và sẵn sàng kết nối với hệ thống của Bộ nhằm nâng cao tính minh bạch và giá trị sản phẩm.
Việc công bố và đưa vào vận hành Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản được kỳ vọng sẽ tạo nền tảng số quan trọng, góp phần xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, minh bạch, an toàn và phát triển bền vững, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và quốc tế.
Thu Trang






















