Ngân hàng có tiền, doanh nghiệp vẫn khó vay

Hơn 11 triệu tỷ đồng tiền gửi của người dân đang nằm trong hệ thống ngân hàng. Chỉ riêng 6 tháng đầu năm 2026, số dư tiền gửi của khu vực này tăng khoảng 733.000 tỷ đồng, tiền gửi của các tổ chức kinh tế cũng đạt khoảng 6,37 triệu tỷ đồng. Những con số này cho thấy nguồn vốn trong hệ thống ngân hàng đang ở quy mô rất lớn.

Nhưng phía sau con số kỷ lục ấy lại xuất hiện một nghịch lý đáng chú ý. Theo PGS, TS. Đặng Ngọc Đức, Viện trưởng Viện Công nghệ tài chính, Trường Đại học Đại Nam, “van” hút tiền vào ngân hàng đang mở, trong khi “van” đưa tiền từ ngân hàng ra khu vực sản xuất lại bị nghẽn.

Điều đáng nói là nút thắt không nằm đơn thuần ở việc ngân hàng thiếu tiền để cho vay, ngân hàng có nguồn vốn, doanh nghiệp có nhu cầu vốn, nhưng hai phía chưa thực sự gặp nhau. Chính khoảng cách này đang khiến bài toán khơi thông dòng vốn trở nên khó khăn hơn.

Nghịch lý nền kinh tế hiện nay là “van” hút tiền vào ngân hàng đang mở, trong khi “van” đưa tiền từ ngân hàng ra khu vực sản xuất lại bị nghẽn.
Nghịch lý nền kinh tế hiện nay là “van” hút tiền vào ngân hàng đang mở, trong khi “van” đưa tiền từ ngân hàng ra khu vực sản xuất lại bị nghẽn (Ảnh minh họa)

Theo PGS, TS. Đặng Ngọc Đức, tiền gửi của người dân và doanh nghiệp vẫn có xu hướng tăng trong khi tín dụng cũng tăng trưởng. Tuy nhiên, việc nguồn vốn trong ngân hàng lớn không đồng nghĩa tiền sẽ tự động chảy vào khu vực sản xuất.

“Sản xuất vật chất tạo ra hàng hóa, đặc biệt là hàng hóa tiêu dùng hiện nay đang gặp rất nhiều khó khăn, cho dù các ngân hàng có cố gắng cho vay vốn thì cũng rất khó đi vào khu vực sản xuất”, PGS, TS. Đặng Ngọc Đức phân tích.

Ở đây, vấn đề được đặt ra không phải là có tiền hay không, mà là tiền có tìm được đúng nơi cần vốn và có khả năng sử dụng hiệu quả hay không.

Trong bối cảnh nền kinh tế còn khó khăn, các kênh đầu tư khác không đủ hấp dẫn khiến tiền có xu hướng tìm về ngân hàng, nơi được đánh giá là an toàn hơn. Lãi suất tiền gửi cũng trở thành một yếu tố hút dòng tiền. Khi lãi suất đủ hấp dẫn, người có tiền có xu hướng gửi ngân hàng thay vì tìm kiếm những kênh đầu tư có mức độ rủi ro cao hơn.

Số liệu của Ngân hàng Nhà nước cho thấy đến cuối tháng 6/2026, tiền gửi của người dân đạt 11,069 triệu tỷ đồng, tăng khoảng 733.000 tỷ đồng, tương đương 7,1% so với cuối năm 2025. Nếu tính cả tiền gửi của các tổ chức kinh tế, tổng tiền gửi tại hệ thống ngân hàng lên tới khoảng 17,44 triệu tỷ đồng.

Tuy nhiên, không nên hiểu toàn bộ mức tăng 733.000 tỷ đồng là lượng tiền mới người dân đưa vào ngân hàng trong 6 tháng đầu năm, đây là mức tăng của số dư tiền gửi, chịu tác động của tiền gửi mới, tiền rút ra, tiền lãi nhập gốc và những biến động khác.

Cuối năm 2025, tiền gửi dân cư đã ở mức khoảng 10,335 triệu tỷ đồng, với quy mô tiền gửi lớn như vậy, riêng phần lãi phát sinh cũng có thể tạo ra mức tăng đáng kể. Phép tính giả định trong tài liệu cho thấy, nếu toàn bộ số dư này hưởng mức lãi suất bình quân 6%/năm trong 6 tháng thì tiền lãi lý thuyết khoảng 310.000 tỷ đồng. Đây không phải số lãi thực tế được nhập vào tiền gửi, mà chỉ cho thấy tiền lãi từ lượng tiền đã gửi trước đó cũng có thể đóng góp đáng kể vào mức tăng số dư.

Nhưng dù được hình thành như thế nào, quy mô hơn 11 triệu tỷ đồng vẫn đặt ra một câu hỏi quan trọng hơn, nguồn vốn lớn như vậy đang được chuyển hóa thành động lực cho sản xuất kinh doanh ra sao?

Theo PGS, TS. Đặng Ngọc Đức, nút thắt lớn hơn nằm ở việc doanh nghiệp có đáp ứng được điều kiện tín dụng và có đủ khả năng hấp thụ nguồn vốn hay không.

“Người có nhu cầu thật sự, có khả năng tạo ra lợi nhuận thì không đủ điều kiện để vay vốn, thế còn những người đủ điều kiện để vay vốn thì họ lại không có nhu cầu”, ông Đức nói.

Đây chính là điểm nghẽn của dòng vốn vì doanh nghiệp muốn vay phải chứng minh được năng lực tài chính, khả năng trả nợ và hiệu quả sử dụng vốn nhưng khi thị trường tiêu thụ khó khăn, doanh thu và dòng tiền suy giảm, việc chứng minh khả năng trả nợ lại càng khó. Trong khi đó, không tiếp cận được vốn thì doanh nghiệp càng khó đầu tư, mở rộng sản xuất và cải thiện dòng tiền.

Vòng luẩn quẩn vì thế hình thành, doanh nghiệp cần vốn nhưng khó đáp ứng điều kiện vay; ngân hàng có vốn nhưng phải kiểm soát rủi ro; còn nguồn tiền cuối cùng vẫn nằm trong hệ thống thay vì nhanh chóng chuyển thành năng lực sản xuất mới.

Giảm lãi suất chưa đủ để khơi thông dòng vốn

Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, điểm nghẽn này còn thể hiện rõ ở khả năng hấp thụ vốn. Ông Lại Hoàng Dương, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm người đại diện pháp luật Công ty Cổ phần Truyền thông và Máy tính Thánh Gióng cho rằng, bài toán vốn hiện nay không chỉ nằm ở lãi suất mà còn ở khả năng hấp thụ vốn.

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank) triển khai chương trình tín dụng với lãi suất ưu đãi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, các lĩnh vực ưu tiên. Ảnh: NGÔ TRANG
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank) triển khai chương trình tín dụng với lãi suất ưu đãi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, các lĩnh vực ưu tiên. Ảnh: NGÔ TRANG

Theo ông Dương, không nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa ở thời điểm hiện tại có nhu cầu vay vốn để mở rộng đầu tư. Thị trường còn nhiều biến động, doanh nghiệp thiếu lợi thế cạnh tranh rõ ràng và chưa có đủ niềm tin vào triển vọng kinh doanh khiến nhiều đơn vị lựa chọn sử dụng vốn tự có, hạn chế đầu tư hoặc thu hẹp quy mô để duy trì hoạt động.

Như vậy, ngay cả khi ngân hàng có thể cung cấp vốn, doanh nghiệp cũng chưa chắc sẵn sàng vay nhưng với những doanh nghiệp thực sự cần vốn, chi phí vay vẫn là một rào cản đáng kể.

“Nếu chi phí vốn lên tới 14-15%/năm, rất khó có hoạt động sản xuất kinh doanh nào tạo ra mức lợi nhuận đủ để đáp ứng. Lãi suất 10%/năm là ranh giới để doanh nghiệp quyết định tiếp tục làm hay không và đến 12%/năm thì chắc chắn là không”, ông Lại Hoàng Dương nói.

Điều đó cho thấy giảm lãi suất vẫn là một phần của lời giải, nhưng chưa thể tự mình tháo gỡ toàn bộ điểm nghẽn. Nếu doanh nghiệp không có đơn hàng, thị trường tiêu thụ chưa phục hồi hoặc không nhìn thấy cơ hội mở rộng sản xuất, việc giảm thêm chi phí vốn cũng chưa chắc tạo ra nhu cầu vay mới.

Vấn đề quan trọng hơn là phải làm sao để ngân hàng và doanh nghiệp có thể gặp nhau ở những khoản vay thực sự phục vụ sản xuất.

Theo ông Lại Hoàng Dương, các hiệp hội ngành hàng có thể được trao vai trò lớn hơn trong việc thẩm định, giới thiệu và bảo lãnh doanh nghiệp vay vốn. Đây có thể là một cách tạo thêm cầu nối giữa ngân hàng với những doanh nghiệp có nhu cầu vốn thực tế.

Một giải pháp khác được ông Dương đề xuất là ngân hàng có thể giải ngân trực tiếp cho bên cung cấp nguyên vật liệu thay vì chuyển toàn bộ khoản vay cho doanh nghiệp. Cách làm này vừa giúp kiểm soát tốt hơn mục đích sử dụng vốn, vừa hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguyên liệu phục vụ sản xuất với chi phí vốn phù hợp.

Mục tiêu cuối cùng là hình thành cơ chế phối hợp giữa ngân hàng, hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp, qua đó đưa vốn đến đúng địa chỉ, giảm rủi ro tín dụng và hỗ trợ khu vực sản xuất phục hồi.

Ở góc độ quản lý, ông Nguyễn Đức Lệnh, Phó Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Khu vực 2, cho biết tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn chiếm 39,2% tổng huy động vốn. Nguồn tiền gửi ổn định tạo điều kiện để các tổ chức tín dụng mở rộng tín dụng trung và dài hạn, hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư, phát triển, mở rộng sản xuất kinh doanh, đổi mới công nghệ và phát triển hạ tầng.

Theo ông Nguyễn Đức Lệnh, dòng vốn tín dụng đã được định hướng vào các ngành sản xuất ưu tiên; dư nợ cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa, phát triển nông nghiệp, xuất khẩu và công nghiệp hỗ trợ đều đạt những con số đáng chú ý. Tuy nhiên, nguồn tiền huy động tăng mạnh không đồng nghĩa toàn bộ dòng vốn sẽ ngay lập tức đi vào sản xuất kinh doanh.

TS. Đinh Trọng Thịnh, chuyên gia kinh tế - tài chính nhìn nhận, dù hoạt động cho vay khá đa dạng, trong vài tháng qua tốc độ tăng trưởng tín dụng đổ vào bất động sản vẫn cao hơn tín dụng phục vụ sản xuất kinh doanh.

Theo TS. Đinh Trọng Thịnh, điều này một phần xuất phát từ đặc điểm của các khoản vay bất động sản khi nhu cầu vay và giá trị khoản vay thường rất lớn. Về nguyên tắc, Ngân hàng Nhà nước mong muốn đẩy mạnh nguồn vốn vào sản xuất kinh doanh, đồng thời giảm thiểu sự gia tăng của tín dụng bất động sản. Tuy nhiên, trên thực tế, tốc độ tăng trưởng tín dụng bất động sản vẫn duy trì ở mức cao.

Vì vậy, bài toán đặt ra không chỉ là tiếp tục thu hút tiền vào ngân hàng mà quan trọng hơn là phải phân bổ nguồn vốn hiệu quả cho nền kinh tế. Việc điều chỉnh mức độ cho vay cần được thực hiện hợp lý, bảo đảm tín dụng bất động sản ở mức phù hợp và tạo điều kiện để nguồn vốn đi vào những khu vực có khả năng tạo ra giá trị thực.

Suy cho cùng, ngân hàng thực hiện chức năng trung gian tài chính, huy động nguồn tiền tạm thời chưa sử dụng của người dân và doanh nghiệp để chuyển thành nguồn vốn tín dụng cho những chủ thể có nhu cầu. Bởi vậy, ý nghĩa của hơn 11 triệu tỷ đồng tiền gửi không chỉ nằm ở con số kỷ lục mà quan trọng hơn là khả năng chuyển hóa nguồn vốn đó thành tín dụng phục vụ tăng trưởng.

Nếu dòng vốn được đưa vào mở rộng sản xuất, đầu tư máy móc, công nghệ, hạ tầng và nâng cao năng suất, nguồn tiền tiết kiệm sẽ trở thành năng lực sản xuất mới của nền kinh tế.

Ngược lại, nếu vốn được phân bổ vào những hoạt động có hiệu quả thấp, tạo ra ít giá trị gia tăng hoặc chủ yếu làm tăng giá tài sản, tiền gửi và tín dụng vẫn có thể cùng lập những mức cao mới mà hiệu quả sử dụng nguồn lực của nền kinh tế không tăng tương ứng.

Vì thế, bài toán của dòng tiền hiện nay không còn đơn thuần là làm thế nào để “hút” thêm tiền vào ngân hàng, khi nguồn vốn đã rất lớn, điều cần quan tâm hơn là làm thế nào mở được “chiếc van” đưa tiền ra đúng nơi nền kinh tế đang cần, đặc biệt là khu vực sản xuất. Đây mới là khâu quyết định nguồn tiền nhàn rỗi có thực sự trở thành động lực cho tăng trưởng hay không.

Ngọc Linh