
Căn cứ Nghị định 361/2025/NĐ-CP, việc xếp ngạch thực hiện theo vị trí việc làm, trong đó người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc cấp xã được bố trí ở ngạch chuyên viên chính và tương đương, còn tỷ lệ này ở cấp phó không vượt quá 50%. Ngạch chuyên viên chính (loại A2.1) có khung hệ số lương từ 4,40 đến 6,78. Với bậc cuối cùng đạt hệ số 6,78, khi nhân với mức lương cơ sở 2,53 triệu đồng mỗi tháng áp dụng từ ngày 1/7, khoản tiền lương cơ bản đạt 17.153.400 đồng mỗi tháng.
Mức đãi ngộ công vụ ghi nhận bước ngoặt mới kể từ khi Nghị định 381/2026/NĐ-CP có hiệu lực. Những nhân sự không thụ hưởng chính sách thu nhập tăng thêm từ nghị quyết của HĐND cấp tỉnh được áp dụng mức phụ cấp công vụ 55% tính trên tổng lương hiện hưởng cùng phụ cấp chức vụ lãnh đạo và thâm niên vượt khung nếu có. Đơn cử, với mức lương hệ số 6,78 nêu trên và chưa tính các khoản chức danh khác, riêng phụ cấp công vụ 55% đã đạt 9.434.370 đồng, nâng tổng mức lương và phụ cấp công vụ lên 26.587.770 đồng mỗi tháng trước khi trừ các khoản trích nộp bắt buộc.
Đối với những địa phương tự cân đối ngân sách và áp dụng cơ chế đặc thù, nguồn thu nhập tăng thêm gắn chặt với mức độ hoàn thành nhiệm vụ giúp tổng thu nhập của công chức cơ sở tiệm cận những mốc cao hơn. Tại Hà Nội, Nghị quyết 52/2026/NQ-HĐND quy định mức chi thu nhập tăng thêm tối đa bằng một lần mức lương ngạch bậc hiện hưởng (không tính phụ cấp) dành cho người hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, mức hoàn thành tốt nhiệm vụ nhận 0,8 lần và hoàn thành nhiệm vụ nhận 0,5 lần. Trong trường hợp này, phụ cấp công vụ áp dụng ở mức 25%, tương ứng 4.288.350 đồng. Một cán bộ cấp xã hưởng hệ số 6,78 nếu đạt danh hiệu xuất sắc sẽ nhận thêm khoản chi tăng thêm 17.153.400 đồng, đưa tổng ba khoản lương, phụ cấp công vụ và tiền thưởng hoàn thành công việc lên mức 38.595.150 đồng mỗi tháng. Mức tính này sẽ dao động về khoảng 35,16 triệu đồng nếu xếp loại hoàn thành tốt và khoảng 30,02 triệu đồng khi ở mức hoàn thành nhiệm vụ. Tại TPHCM, Quyết định 78/2026/QĐ-UBND cũng quy đổi điểm đánh giá theo quý, trong đó người đạt từ 90 điểm trở lên được hưởng trọn 100% định mức chi, từ 85 đến dưới 90 điểm hưởng 90%, từ 70 đến dưới 85 điểm hưởng 80% và dưới 70 điểm thì không xét chi thưởng.
Yếu tố địa bàn công tác cũng tạo nên sự phân hóa rõ rệt trong cơ cấu thu nhập thông qua phụ cấp khu vực và phụ cấp đặc biệt. Theo Thông tư 15/2026/TT-BNV, hệ số phụ cấp khu vực kịch khung 1,0 đang được triển khai tại đặc khu Hoàng Sa (Đà Nẵng) và đặc khu Trường Sa (Khánh Hòa), tương ứng mức hỗ trợ cố định 2,53 triệu đồng mỗi tháng tính theo mức lương cơ sở cho mọi đối tượng thụ hưởng.
Bên cạnh đó, phụ cấp đặc biệt dành riêng cho người bám trụ làm việc tại các vùng biên giới khó khăn hoặc hải đảo xa đất liền gồm các mức 30%, 50% và 100% tính trên lương hiện hưởng cộng phụ cấp chức vụ và thâm niên vượt khung. Lấy ví dụ ở mức lương hệ số 6,78, khoản phụ cấp đặc biệt 30% tương ứng hơn 5,14 triệu đồng, mức 50% đạt hơn 8,57 triệu đồng và mức 100% tương đương trọn vẹn 17.153.400 đồng, đưa tổng hai khoản lương và phụ cấp đặc biệt lên tới 34.306.800 đồng mỗi tháng. Khoản này chỉ chi trả cho thời gian thực tế công tác tại địa bàn, không giải quyết khi rời địa bàn từ một tháng trở lên.
Những nhân sự thuộc diện hưởng chính sách tại vùng đặc biệt khó khăn theo Nghị định 76/2019/NĐ-CP còn có thể tiếp cận phụ cấp thu hút bằng 70% mức lương hiện hưởng hoặc phụ cấp công tác lâu năm từ 0,5 đến 1,0 lần lương cơ sở, với nguyên tắc không hưởng trùng lặp mà chỉ áp dụng một mức ưu đãi cao nhất giữa các chính sách cùng loại. Do tính chất đặc thù về vị trí địa lý và cơ chế phân bổ ngân sách riêng biệt của từng địa phương, các khoản phụ cấp hải đảo, vùng sâu vùng xa không thể cộng gộp cơ học với chính sách thu nhập tăng thêm của các đô thị lớn, đồng thời tiền thưởng cũng được phân định rạch ròi theo kết quả thực thi công vụ chứ không phải là mức thụ hưởng bình quân cố định.
Tâm An























