Theo Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội thế giới và trong nước tác động đến phát triển công nghiệp, năng lượng và thương mại Việt Nam tháng 9/2026 của Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương (Bộ Công Thương), sản xuất công nghiệp tiếp tục giữ vai trò động lực tăng trưởng chủ đạo.

Trong quý III/2026, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) ước tăng 14,8% so với cùng kỳ. Tính chung 9 tháng, IIP tăng 12,3%, mức cao nhất trong nhiều năm. Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 12,9%; sản xuất và phân phối điện tăng 10,6%; khai khoáng tăng 8%.
Đáng chú ý, tăng trưởng công nghiệp được ghi nhận tại cả 34 địa phương, cho thấy đà phục hồi có độ phủ rộng, không chỉ tập trung tại một số trung tâm công nghiệp.
Cùng với sản xuất, sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống trong 9 tháng đạt 265,79 tỷ kWh, tăng 9,3%.
Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) ngành sản xuất tháng 9 đạt 51,9 điểm, đánh dấu tháng thứ 15 liên tiếp điều kiện kinh doanh cải thiện. Tuy nhiên, tốc độ mở rộng có dấu hiệu chững lại do áp lực từ đơn hàng xuất khẩu.
Kết quả khảo sát doanh nghiệp quý III cho thấy 34,2% doanh nghiệp chế biến, chế tạo đánh giá tình hình sản xuất, kinh doanh tốt hơn quý trước; 45,7% nhận định ổn định. Về triển vọng quý IV, có 39,2% doanh nghiệp kỳ vọng tình hình tốt lên, trong khi 16,1% dự báo khó khăn hơn.
Dù duy trì tăng trưởng cao, sản xuất công nghiệp vẫn đối mặt với bài toán phụ thuộc nguồn nguyên liệu và thiết bị nhập khẩu.
Theo báo cáo, nhóm tư liệu sản xuất chiếm 94,1% kim ngạch nhập khẩu. Trong đó, máy móc, thiết bị chiếm 58,3%; nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 35,8%.
Các số liệu phản ánh xu hướng doanh nghiệp mở rộng sản xuất, đầu tư năng lực mới. Tuy nhiên, khi tỷ lệ nội địa hóa chưa cao, sản xuất tăng trưởng cũng kéo theo nhu cầu nhập khẩu đầu vào lớn hơn, nhất là trong các ngành điện tử, máy móc thiết bị, dệt may, da giày, nhựa và hóa chất.
Báo cáo cũng cảnh báo tình trạng dư thừa công suất tại Trung Quốc làm gia tăng nguy cơ thép, hóa chất và vật liệu xây dựng chuyển hướng sang thị trường Việt Nam, tạo sức ép cạnh tranh đối với các ngành chế tạo truyền thống.
Trong khi đó, Liên minh châu Âu (EU) chuẩn bị thực hiện nghĩa vụ tài chính theo Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM), đặt ra yêu cầu mới đối với doanh nghiệp ngành thép, nhôm và phân bón.
Trước những thách thức này, Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương đề xuất các ngành xuất khẩu lớn rà soát nguyên liệu, linh kiện đang phụ thuộc vào một số thị trường, từ đó xác định sản phẩm có thể sản xuất trong nước hoặc thay thế bằng nguồn cung khác.
Chính sách hỗ trợ công nghiệp cần tập trung vào doanh nghiệp có khả năng sản xuất linh kiện, vật liệu và bán thành phẩm đang được nhập khẩu với khối lượng lớn.
Đối với doanh nghiệp, báo cáo khuyến nghị tăng cường ứng dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng; hoàn thiện hệ thống truy xuất nguồn gốc nguyên liệu trong ngành thép, cơ khí. Những ngành chịu tác động của CBAM cần thiết lập hệ thống đo lường, báo cáo và thẩm tra phát thải nội bộ.
Báo cáo nhấn mạnh, khi công nghiệp đã đạt tốc độ tăng trưởng cao, trọng tâm thời gian tới cần chuyển sang nâng giá trị gia tăng do doanh nghiệp trong nước tạo ra. Phát triển công nghiệp hỗ trợ và chủ động nguồn đầu vào là yếu tố quan trọng để duy trì tăng trưởng bền vững trước biến động bên ngoài.
Minh Khánh























