Sau gần một thập kỷ triển khai quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật Quản lý ngoại thương, cơ chế cấp phép gia công hàng hóa thuộc diện xuất khẩu, nhập khẩu đang cho thấy nhiều điểm không còn phù hợp với thực tiễn. Theo Bộ Công Thương, số lượng hồ sơ đề nghị cấp phép gia công gửi về Bộ trong thời gian qua rất ít. Không ít thương nhân còn lúng túng khi xác định mặt hàng thuộc diện phải xin phép, thậm chí đề nghị cấp phép đối với cả những sản phẩm không thuộc diện quản lý này.

Thực tế cũng cho thấy, hệ thống pháp luật quản lý chuyên ngành hiện hành không quy định riêng về việc cấp phép gia công hàng hóa. Điều đó đặt ra yêu cầu phải rà soát lại thẩm quyền quản lý ở cấp Bộ, nhằm tối ưu hóa nguồn lực hành chính, tránh duy trì những thủ tục không còn phù hợp.

Trên cơ sở đó, Bộ Công Thương đã đề xuất chuyển thẩm quyền cấp phép gia công hàng hóa thuộc diện xuất khẩu, nhập khẩu từ Bộ về UBND cấp tỉnh. Theo Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân, giải pháp này nhằm cụ thể hóa chủ trương tăng cường phân cấp, phân quyền cho chính quyền địa phương, nâng cao tính chủ động và trách nhiệm của UBND cấp tỉnh trong quản lý ngoại thương trên địa bàn.

Ảnh minh hoạ
Ảnh minh hoạ

Việc phân quyền cũng giúp giảm tải khối lượng công việc hành chính cho các bộ, ngành trung ương, để tập trung hơn vào công tác xây dựng chính sách, hoàn thiện pháp luật, hướng dẫn và kiểm tra, giám sát. Đồng thời, cơ quan quản lý địa phương sẽ có điều kiện theo sát thực tế doanh nghiệp, xử lý hồ sơ nhanh chóng và phù hợp hơn với đặc thù từng địa bàn.

Không chỉ câu chuyện phân quyền cấp phép gia công, nhiều quy định khác của Luật Quản lý ngoại thương cũng đang bộc lộ hạn chế. Theo đánh giá của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, luật hiện hành chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn và các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia.

Một trong những bất cập đáng chú ý là chưa có cơ chế phù hợp cho phép doanh nghiệp nhập khẩu trở lại hàng hóa do chính mình sản xuất đã xuất khẩu, nhằm phục vụ sửa chữa, bảo hành hoặc các mục đích hợp pháp khác, đặc biệt trong trường hợp hàng hóa thuộc diện cấm nhập khẩu. Khoảng trống pháp lý này khiến doanh nghiệp gặp khó khăn trong tổ chức sản xuất, kinh doanh và làm giảm tính linh hoạt của hoạt động thương mại quốc tế.

Bên cạnh đó, quy định về cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa và văn bản chấp thuận cho thương nhân tự chứng nhận xuất xứ còn thiếu thống nhất về tiêu chí áp dụng giữa các cơ quan có thẩm quyền ở trung ương và địa phương. Sự thiếu đồng bộ này ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ xuất khẩu và uy tín của hệ thống chứng nhận xuất xứ Việt Nam trong mắt các đối tác FTA.

Đặc biệt, việc thực hiện các cam kết trong Hiệp định CPTPP đòi hỏi Việt Nam phải từng bước hoàn thiện cơ chế tự chứng nhận xuất xứ đối với hàng hóa nhập khẩu. Tuy nhiên, Luật Quản lý ngoại thương chưa có quy định đầy đủ về phân quyền, trách nhiệm quản lý cũng như cơ chế áp dụng đối với nhà nhập khẩu đủ điều kiện tự chứng nhận xuất xứ. Điều này gây khó khăn trong quá trình triển khai các cam kết đã ký kết.

Từ góc độ pháp lý, luật sư Hoàng Văn Doãn, Đoàn Luật sư TP. Hà Nội cho rằng, một số quy định của Luật Quản lý ngoại thương chưa bảo đảm tính thống nhất nội tại. Điển hình là mối quan hệ giữa các quy định về chứng nhận xuất xứ hàng hóa tại Điều 32 và Điều 34, dễ gây lúng túng trong quá trình áp dụng và thực thi.

Ngoài ra, thẩm quyền cấp giấy chứng nhận lưu hành tự do hiện vẫn được giới hạn ở cơ quan “nhà nước”, chưa thực sự phù hợp với yêu cầu cải cách thủ tục hành chính và thông lệ của một số quốc gia nhập khẩu. Việc này có thể làm phát sinh thêm chi phí, kéo dài thời gian xử lý hồ sơ, ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Theo quan điểm của Bộ Tư pháp và Bộ Công Thương, việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung một số quy định của Luật Quản lý ngoại thương là cần thiết, nhằm tháo gỡ vướng mắc cho doanh nghiệp, bảo đảm tính thống nhất và đồng bộ của hệ thống pháp luật. Đồng thời, đây cũng là bước đi quan trọng để đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực ngoại thương.

Trong đề xuất gửi Chính phủ, Bộ Công Thương không chỉ kiến nghị phân quyền cấp phép gia công về địa phương, mà còn đề xuất bổ sung cơ chế cho doanh nghiệp được nhập khẩu lại hàng hóa đã xuất khẩu, kể cả hàng thuộc diện cấm nhập khẩu, để tái xuất sang thị trường khác. Đồng thời, hoàn thiện cơ chế tự chứng nhận xuất xứ đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và làm rõ khái niệm giấy chứng nhận lưu hành tự do.

Nếu được thông qua, các giải pháp này sẽ góp phần thể chế hóa chủ trương tăng cường phân cấp, phân quyền, nâng cao tính chủ động và trách nhiệm của cơ quan được giao thẩm quyền. Quan trọng hơn, việc sửa đổi luật theo hướng minh bạch, đồng bộ và phù hợp với cam kết quốc tế sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí, rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục, qua đó tăng sức cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập sâu rộng.

Phương Thảo(t/h)