Vốn mới tăng mạnh, công nghiệp chế biến tiếp tục là điểm hút vốn

Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam tính đến ngày 31/8 đạt 40,63 tỷ USD, tăng 55,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, vốn FDI thực hiện ước đạt 17,25 tỷ USD, tăng 12% và là mức cao nhất của 8 tháng trong 5 năm qua.

Điểm đáng chú ý nằm ở sự gia tăng mạnh của vốn đăng ký cấp mới. Trong 8 tháng, Việt Nam cấp phép 2.771 dự án FDI mới với tổng vốn 21,72 tỷ USD, tăng 9,4% về số dự án nhưng tăng tới 96,8% về vốn.

Khoảng cách giữa tốc độ tăng số dự án và số vốn cho thấy quy mô bình quân của các dự án mới đang tăng lên. Nói cách khác, đà tăng FDI không chỉ đến từ việc có thêm nhiều nhà đầu tư, mà còn từ sự xuất hiện của những dự án có quy mô lớn hơn.

Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò trung tâm trong dòng vốn mới với 12,15 tỷ USD, chiếm 55,9% tổng vốn cấp mới. Tiếp đến là sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí với 3,13 tỷ USD.

Dòng vốn FDI tiếp tục tập trung vào công nghiệp chế biến, chế tạo, góp phần mở rộng năng lực sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam.
Dòng vốn FDI tiếp tục tập trung vào công nghiệp chế biến, chế tạo, góp phần mở rộng năng lực sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam.

Nếu tính cả vốn đăng ký mới và vốn điều chỉnh, công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút 20,18 tỷ USD, chiếm 59,5%. Bất động sản đạt 5,32 tỷ USD, trong khi các ngành còn lại đạt 8,42 tỷ USD.

Cơ cấu này cho thấy lợi thế sản xuất của Việt Nam vẫn là một trong những yếu tố quan trọng nhất thu hút dòng vốn quốc tế. Hệ sinh thái công nghiệp được tích lũy trong nhiều năm, cùng mạng lưới FTA và xu hướng tái cấu trúc chuỗi cung ứng, tiếp tục tạo sức hút đối với các nhà đầu tư.

Về đối tác, Singapore dẫn đầu về vốn đăng ký cấp mới với 7,62 tỷ USD, chiếm 35,1%; tiếp theo là Hàn Quốc với 5,67 tỷ USD và Hồng Kông (Trung Quốc) với 2,96 tỷ USD. Trung Quốc, Nhật Bản và Hà Lan cũng nằm trong nhóm những nhà đầu tư lớn.

Từ vốn đăng ký đến sức sản xuất thực tế

Nếu vốn đăng ký phản ánh kỳ vọng đầu tư, thì vốn giải ngân mới là chỉ dấu rõ hơn về khả năng chuyển hóa nguồn lực thành hoạt động kinh tế. Với 17,25 tỷ USD được thực hiện trong 8 tháng, dòng vốn FDI đang tiếp tục đi vào nhà máy, thiết bị và năng lực sản xuất.

Đặc biệt, công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tới 82,6% vốn FDI thực hiện, tương đương 14,24 tỷ USD. Đây là yếu tố có ý nghĩa lớn đối với tăng trưởng khi khu vực này có mối liên hệ trực tiếp với sản xuất công nghiệp, xuất khẩu và nhu cầu về logistics, nguyên vật liệu, dịch vụ hỗ trợ.

Bên cạnh vốn mới, vốn điều chỉnh cũng tăng. Có 819 lượt dự án được cấp phép từ những năm trước đăng ký tăng thêm 12,21 tỷ USD, tăng 14,7% so với cùng kỳ. Việc doanh nghiệp FDI tiếp tục mở rộng vốn tại các dự án hiện hữu cho thấy một bộ phận nhà đầu tư đang lựa chọn tăng công suất thay vì chỉ triển khai các dự án mới.

Trong khi đó, hoạt động góp vốn, mua cổ phần đạt 6,7 tỷ USD, tăng 50,1%. Đáng chú ý, 40,9% giá trị dòng vốn này tập trung vào hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ. Đây có thể là tín hiệu tích cực đối với quá trình nâng cao hàm lượng công nghệ trong dòng vốn ngoại.

Với mục tiêu tăng trưởng cao trong năm 2026, quy mô FDI vì thế không chỉ mang ý nghĩa về lượng vốn bổ sung cho nền kinh tế. Quan trọng hơn là khả năng chuyển vốn đăng ký thành năng lực sản xuất, việc làm, xuất khẩu và giá trị gia tăng.

Tuy nhiên, tốc độ tăng vốn đăng ký cũng đặt ra yêu cầu phải nâng chất lượng thu hút FDI. Trong giai đoạn tới, trọng tâm không nên chỉ là tiếp tục mở rộng tổng vốn mà cần hướng dòng vốn vào công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, R&D, kinh tế số, kinh tế xanh và các ngành có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa.

Đồng thời, việc thúc đẩy doanh nghiệp FDI liên kết với khu vực trong nước sẽ quyết định mức độ đóng góp dài hạn của dòng vốn này. Khi doanh nghiệp Việt Nam có thể tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn quốc tế, tác động của FDI sẽ không chỉ nằm trong khu vực doanh nghiệp có vốn nước ngoài mà lan rộng hơn tới toàn bộ nền kinh tế.

Nam Sơn (t/h)