Từ gặp gỡ thương mại đến kiểm chứng năng lực cung ứng
Vừa qua, chuỗi sự kiện “Viet Nam International Sourcing 2026” chính thức khai mạc tại TP. Hồ Chí Minh, do UBND TP. Hồ Chí Minh và Bộ Công Thương đồng chủ trì, Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP. Hồ Chí Minh (ITPC) phối hợp với Vụ Phát triển thị trường nước ngoài tổ chức.
Sự kiện năm nay quy tụ khoảng 500 doanh nghiệp Việt Nam, 500 kênh phân phối và nhà mua hàng quốc tế, cùng khoảng 3.000 cuộc kết nối giao thương B2B. Quy mô này tạo ra một không gian lớn để doanh nghiệp trong nước tiếp cận trực tiếp các đối tác đang có nhu cầu tìm kiếm nguồn hàng.
Tuy nhiên, điểm đáng chú ý không nằm ở số lượng cuộc gặp mà ở cách thức tổ chức kết nối. Theo Bộ Công Thương, hồ sơ doanh nghiệp Việt Nam được rà soát dựa trên nhu cầu cụ thể của từng nhà mua hàng để thực hiện ghép nối có mục tiêu. Các cuộc gặp được lên lịch trước, giúp hai bên chuẩn bị thông tin, mẫu sản phẩm và nội dung trao đổi.

Cách làm này cho thấy hoạt động xúc tiến thương mại đang chuyển từ mở rộng số lượng tiếp xúc sang nâng cao chất lượng kết nối. Với nhà mua hàng quốc tế, một sản phẩm đáp ứng yêu cầu về mẫu mã hay giá cả chưa đủ để đi đến quyết định đặt hàng. Họ còn cần biết doanh nghiệp có đủ năng lực sản xuất, kiểm soát chất lượng, bảo đảm tiến độ và duy trì nguồn cung ổn định hay không.
Vì vậy, chương trình năm nay không chỉ kết nối tại khu vực triển lãm. Sau các cuộc gặp B2B, những đoàn mua hàng có nhu cầu còn được tổ chức khảo sát nhà máy, cảng, trung tâm logistics và vùng sản xuất phù hợp.
Đây là bước kết nối trực tiếp từ sản phẩm tới toàn bộ hệ sinh thái cung ứng. Nhà mua hàng có thể tận mắt đánh giá công suất, quy trình sản xuất, năng lực logistics và khả năng đáp ứng đơn hàng trước khi tiến tới hợp tác dài hạn.
Mở rộng không gian xuất khẩu trong chuỗi cung ứng toàn cầu
Theo Thứ trưởng Bộ Công Thương Phan Thị Thắng, chuỗi cung ứng toàn cầu đang được tổ chức lại với những yêu cầu ngày càng cao về an toàn, minh bạch và phát triển bền vững. Việt Nam có lợi thế khi đã ký kết 17 hiệp định thương mại tự do, kết nối với hơn 60 nền kinh tế.
Tuy nhiên, lợi thế thuế quan và vị trí địa kinh tế không còn là điều kiện duy nhất quyết định khả năng tham gia chuỗi cung ứng. Doanh nghiệp phải đáp ứng đồng thời các yêu cầu về công nghệ, chất lượng, truy xuất nguồn gốc, phát triển xanh và khả năng giao hàng ổn định.
Trong bối cảnh đó, Viet Nam International Sourcing 2026 được thiết kế theo hướng mở rộng cả ngành hàng và chiều sâu kết nối. Bốn triển lãm chuyên ngành gồm thực phẩm và đồ uống; đồ gia dụng và nội thất; phong cách sống và chăm sóc cá nhân; chuỗi cung ứng xuất khẩu được tích hợp tại một địa điểm.
Bên cạnh các nhóm hàng truyền thống, nhà mua hàng còn quan tâm tới công nghệ số, logistics, bao bì, cơ khí, đóng tàu, thiết bị hàng hải và các giải pháp phục vụ sản xuất. Điều này mở rộng cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam từ bán sản phẩm hoàn chỉnh sang cung cấp linh kiện, dịch vụ và các giải pháp nằm sâu hơn trong chuỗi giá trị.
TP. Hồ Chí Minh cũng đặt mục tiêu đổi mới phương thức xúc tiến thương mại trên nền tảng số, ứng dụng AI và dữ liệu lớn, đồng thời khai thác các thị trường ngách như sản phẩm xanh, Halal và thương mại điện tử xuyên biên giới.
Theo định hướng này, xúc tiến thương mại không chỉ nhằm tìm thêm đơn hàng mà còn giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn tiêu chuẩn của từng thị trường để điều chỉnh sản xuất. Khi nhà mua hàng quốc tế có thể tiếp cận trực tiếp doanh nghiệp, nhà máy, cảng và vùng nguyên liệu, khoảng cách thông tin giữa hai bên được thu hẹp.
Trong dài hạn, đây cũng là điều kiện để hàng hóa Việt Nam chuyển từ vị thế cung cấp theo đơn hàng sang tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng quốc tế. Nếu các kết nối tại sự kiện được chuyển hóa thành hợp đồng và quan hệ hợp tác lâu dài, hiệu quả của xúc tiến thương mại sẽ không chỉ được đo bằng số cuộc gặp mà bằng khả năng hình thành những chuỗi cung ứng ổn định, có giá trị gia tăng cao và đáp ứng các tiêu chuẩn toàn cầu.
Minh Thành (t/h)























