Bước sang đầu tháng 7, biên độ dao động còn lớn hơn. Chỉ trong vài phiên giao dịch, giá hợp đồng tương lai của cả Robusta và Arabica đều giảm mạnh sau giai đoạn tăng nóng. Theo Reuters, sự đảo chiều này xuất phát từ hoạt động mua bù của các quỹ đầu cơ sau kỳ nghỉ Quốc khánh Mỹ, khiến giá tăng mạnh trong ngắn hạn trước khi nhanh chóng điều chỉnh.
Trong nước, thị trường cũng ghi nhận biến động đáng kể. Sau khi giảm về dưới mốc 90.000 đồng/kg, giá cà phê tại khu vực Tây Nguyên đã nhanh chóng phục hồi lên vùng 96.000-97.000 đồng/kg trong tuần đầu tháng 7.
Mặt bằng giá tăng trở lại khiến nhiều nông dân tranh thủ bán ra để hiện thực hóa lợi nhuận. Tuy nhiên, lượng hàng còn lưu giữ trong dân không nhiều nên thanh khoản trên thị trường vẫn khá thận trọng.

Giá trị lớn nhất của hạt cà phê không nằm ở khâu trồng trọt
Trong khi các nước sản xuất chịu ảnh hưởng trực tiếp từ biến động giá nguyên liệu, phần lớn lợi nhuận của chuỗi cà phê toàn cầu lại được tạo ra ở những quốc gia gần như không trồng cà phê.
Theo nghiên cứu The Economic Impact of Coffee in Europe do Europe Economics thực hiện cho Liên đoàn Cà phê châu Âu (ECF), ngành cà phê tại 27 quốc gia thành viên EU tạo ra gần 500 tỷ euro giá trị sản lượng khi tính cả các tác động lan tỏa đối với nền kinh tế.
Điều đáng chú ý là giá trị này không đến từ sản xuất nguyên liệu mà chủ yếu được hình thành ở các khâu rang xay, chế biến, logistics, bán lẻ và đặc biệt là hệ thống khách sạn, nhà hàng, quán cà phê và dịch vụ ăn uống.
Nghiên cứu chỉ ra rằng cứ 1 euro giá trị cà phê nhân nhập khẩu có thể tạo ra hơn 11 euro giá trị sản lượng sau khi trải qua toàn bộ chuỗi chế biến và phân phối. Đây cũng là lý do châu Âu vẫn thu được phần lớn lợi ích kinh tế từ cà phê dù gần như không có vùng nguyên liệu.
Trong chuỗi này, lĩnh vực dịch vụ đóng góp tỷ trọng cao nhất. Chỉ riêng hệ thống khách sạn, nhà hàng và dịch vụ ăn uống đã tạo ra giá trị kinh tế vượt xa khâu chế biến, đồng thời sử dụng phần lớn lao động của toàn ngành.
Sau đại dịch COVID-19, nhu cầu tiêu dùng cà phê ngoài gia đình phục hồi nhanh, kéo theo sự tăng trưởng mạnh của các mô hình kinh doanh đồ uống, giúp giá trị của toàn chuỗi cà phê tại châu Âu tiếp tục mở rộng.
Cơ hội của Việt Nam không còn nằm ở xuất khẩu nguyên liệu
Đối với Việt Nam, bài học từ thị trường châu Âu cho thấy việc mở rộng sản lượng xuất khẩu sẽ không còn là yếu tố quyết định tốc độ tăng trưởng của ngành trong dài hạn.
Muốn nâng cao giá trị, doanh nghiệp cần dịch chuyển dần từ xuất khẩu cà phê nhân sang phát triển các sản phẩm rang xay, hòa tan, cà phê đặc sản và xây dựng thương hiệu có khả năng cạnh tranh trực tiếp trên thị trường quốc tế.
Liên minh châu Âu vẫn là thị trường lớn nhất của cà phê Việt Nam. Năm 2025, xuất khẩu sang khu vực này đạt hơn 666.000 tấn, mang về khoảng 3,63 tỷ USD và chiếm hơn 40% tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành.
Tuy nhiên, cùng với cơ hội là những yêu cầu ngày càng khắt khe về phát triển bền vững. Các doanh nghiệp muốn duy trì thị phần sẽ phải đáp ứng đồng thời nhiều quy định mới của EU liên quan đến chống mất rừng, minh bạch chuỗi cung ứng, trách nhiệm phát triển bền vững và lao động.
Điều này đồng nghĩa lợi thế cạnh tranh trong tương lai sẽ không chỉ đến từ năng suất hay sản lượng, mà còn phụ thuộc vào khả năng truy xuất nguồn gốc, chế biến sâu, giảm phát thải và xây dựng thương hiệu.
Trong bối cảnh giá cà phê thế giới biến động ngày càng khó lường, việc nâng tỷ trọng sản phẩm chế biến và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu được xem là hướng đi giúp ngành cà phê Việt Nam giảm phụ thuộc vào giá nguyên liệu, đồng thời tạo nền tảng tăng trưởng bền vững trong những năm tới.
Nam Sơn (t/h)






















