
Không thể chỉ quy trách nhiệm cho người mua
Khi bàn về “đất sống” của hàng giả, lời giải quen thuộc thường là tâm lý chuộng hàng hiệu nhưng muốn mua với giá thấp. Nhận định này có phần đúng đối với người biết rõ mình đang mua hàng nhái. Tuy nhiên, lấy tâm lý ham rẻ làm nguyên nhân trung tâm sẽ bỏ sót một bộ phận lớn người tiêu dùng bị đánh lừa.
Trên môi trường số, hàng giả có thể được khoác những tên gọi như “hàng xách tay”, “hàng công ty thanh lý”, “hàng nội địa”, “hàng chuẩn hãng giá ưu đãi”. Hình ảnh hàng thật bị sao chép; lượt mua, bình luận, đánh giá có thể được tạo dựng; người có ảnh hưởng tham gia quảng bá khiến người mua tin tưởng trước khi có cơ hội kiểm chứng.
Người bán biết nguồn gốc, chất lượng hàng hóa; người mua chỉ nhìn thấy màn hình và những tín hiệu uy tín do nền tảng hiển thị. Vì vậy, khuyến cáo “hãy là người tiêu dùng thông thái” là cần thiết nhưng không thể thay thế trách nhiệm của người bán, người quảng cáo và nền tảng hưởng lợi từ giao dịch.
Một đơn hàng, nhiều lớp che giấu
Quảng cáo có thể đặt trên một nền tảng, chốt đơn qua ứng dụng nhắn tin, thanh toán vào tài khoản cá nhân và giao hàng từ địa chỉ trung gian. Khi bị phát hiện, gian hàng đóng, tài khoản đổi tên, đường dẫn biến mất, trong khi kho hàng và người tổ chức phía sau vẫn còn.
Cục trưởng Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số Lê Hoàng Oanh chỉ rõ dữ liệu giao dịch đang phân tán giữa nền tảng, đơn vị vận chuyển, trung gian thanh toán và mạng xã hội. Sự phân mảnh này khiến việc xác minh chủ thể, truy dòng hàng và dòng tiền gặp khó khăn.
Năm 2025, cơ quan chức năng đã phối hợp gỡ bỏ 47.842 sản phẩm vi phạm và chặn 13.728 gian hàng có dấu hiệu vi phạm. Trên phạm vi cả nước, hơn 123.000 vụ việc về buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả được phát hiện, xử lý; hơn 3.100 vụ bị khởi tố hình sự với hơn 5.400 đối tượng. Những con số này cho thấy nỗ lực lớn, nhưng cũng đặt ra câu hỏi: Sau khi gian hàng bị chặn, đầu mối sản xuất, kho hàng và người thu lợi đã được nhận diện đến đâu? Nếu chỉ xóa phần nổi trên màn hình, một gian hàng biến mất có thể nhanh chóng được thay bằng gian hàng khác.

Luật mới đã siết, khâu thực thi phải theo kịp
Từ ngày 1/7/2026, Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 và Nghị định số 248/2026/NĐ-CP có hiệu lực. Pháp luật phân định rõ hơn trách nhiệm của người bán, người livestream và chủ quản nền tảng; yêu cầu định danh, xác thực, minh bạch thông tin và lưu trữ dữ liệu.
Nghị định số 248/2026/NĐ-CP yêu cầu nền tảng có livestream phải công khai quy chế về định danh, mở tài khoản, dừng phát, gỡ thông tin và tiếp nhận khiếu nại. Chủ quản nền tảng phải rà soát, gỡ thông tin hàng hóa vi phạm trong 24 giờ kể từ khi nhận yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền; đồng thời phối hợp với chủ thể quyền sở hữu trí tuệ.
Quy định đã khá cụ thể. Điểm quyết định là thực thi bằng dữ liệu. Định danh người bán phải đi cùng khả năng đối chiếu tài khoản thanh toán, kho hàng, đơn vị vận chuyển và lịch sử vi phạm. Nền tảng cần được đánh giá không chỉ qua tốc độ gỡ đường dẫn, mà bằng hiệu quả chủ động sàng lọc, ngăn tái phạm và cung cấp dữ liệu để truy đến người hưởng lợi. Với livestream, phải lưu được nội dung, liên kết sản phẩm, đơn hàng và tài khoản nhận tiền; nếu không, hậu kiểm dễ rơi vào cảnh “theo dấu đã xóa”.
Phải đánh vào lợi nhuận và trách nhiệm của cả chuỗi
Hàng giả tồn tại trước hết vì có lợi nhuận. Người sản xuất không phải đầu tư nghiên cứu, kiểm nghiệm, bảo hộ thương hiệu hay thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế, nhưng lại khai thác danh tiếng do doanh nghiệp chân chính gây dựng. Nếu khoản thu bất hợp pháp lớn hơn nguy cơ bị phát hiện và mức phải trả, thị trường ngầm vẫn còn động lực tái sinh.
Chính phủ đã nhìn nhận mức xử phạt hành chính trong một số lĩnh vực còn thấp, chưa đủ sức răn đe. Tuy nhiên, tăng tiền phạt chỉ là một phần; cần truy dòng tiền, tịch thu lợi ích bất hợp pháp, xử lý người tổ chức và áp dụng trách nhiệm tương xứng với chủ thể biết hoặc phải biết mình đang tiếp sức cho hàng giả.
Nền tảng thu phí, người quảng cáo nhận thù lao, đơn vị thanh toán và vận chuyển hoàn tất đơn hàng. Không thể mặc nhiên coi tất cả là trung gian vô can. Trách nhiệm cần dựa trên mức độ biết, khả năng kiểm soát, cảnh báo đã nhận và việc có tiếp tục cung cấp dịch vụ sau khi phát hiện vi phạm. Doanh nghiệp sở hữu thương hiệu cũng phải chuẩn hóa dữ liệu, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và áp dụng truy xuất nguồn gốc. Tem, mã QR không phải “lá bùa” nếu mã vẫn bị sao chép hoặc hệ thống không phát hiện lịch sử bất thường.

Từ gỡ gian hàng đến triệt đường dây
Cuộc chiến chống hàng giả trên không gian số không thể dừng ở việc đếm số sản phẩm bị gỡ. Thước đo thực chất phải là số đường dây bị triệt phá, số kho hàng bị phát hiện, tiền bất hợp pháp bị thu hồi, tỷ lệ tái phạm và thời gian xử lý phản ánh.
Trọng tâm tiếp theo là chia sẻ dữ liệu có kiểm soát giữa cơ quan quản lý, nền tảng, ngân hàng, trung gian thanh toán và đơn vị vận chuyển; xây dựng hồ sơ rủi ro đối với người bán, kho, số điện thoại và tài khoản nhận tiền bất thường; ưu tiên thuốc, sữa, thực phẩm, thực phẩm chức năng và mỹ phẩm.
Người tiêu dùng vẫn phải thận trọng nhưng không thể tự mình chống lại một chuỗi gian lận ngày càng chuyên nghiệp. Khi hàng giả được quảng bá công khai, bán qua nền tảng lớn, thanh toán và giao tận nhà, câu hỏi không chỉ là “vì sao người mua chọn giá rẻ”, mà còn là hệ thống đã để đơn hàng ấy đi qua những cánh cửa nào? Bịt các cánh cửa đó, truy người cầm đầu và làm cho lợi nhuận bất hợp pháp không còn hấp dẫn mới là cách thu hẹp “đất sống” của hàng giả, bảo vệ người tiêu dùng, doanh nghiệp chân chính và giá trị thương hiệu Việt.
Đình Lương






















