Văn bản không chỉ cụ thể hóa các quy định của Nghị định số 37/2026/NĐ-CP mà còn thiết lập một cấu trúc đánh giá toàn diện, gắn chất lượng sản phẩm với năng lực quản trị tổ chức, qua đó nâng cao tính thực chất, minh bạch và chuẩn mực của cơ chế tôn vinh ở tầm quốc gia. Nội dung thông tư tập trung hướng dẫn cụ thể các nội dung liên quan đến phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, tiêu chí và phương pháp đánh giá, quy trình xét tặng cũng như trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan.

Về phạm vi điều chỉnh, Thông tư quy định chi tiết việc thực hiện các điều khoản của Nghị định liên quan trực tiếp đến cơ chế tổ chức và xét tặng Giải thưởng Chất lượng Quốc gia. Đối tượng áp dụng bao gồm tổ chức, doanh nghiệp có sản phẩm, hàng hóa tham dự giải thưởng; cơ quan quản lý nhà nước; cùng các tổ chức, cá nhân tham gia vào quá trình thẩm định, đánh giá và đề xuất tặng giải. Việc xác định rõ phạm vi và chủ thể áp dụng góp phần bảo đảm tính thống nhất trong triển khai, đồng thời nâng cao trách nhiệm pháp lý của các bên liên quan.

Một điểm đáng chú ý là Thông tư đã làm rõ khái niệm sản phẩm, hàng hóa tham dự giải thưởng trên cơ sở viện dẫn Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa (đã được sửa đổi, bổ sung), đồng thời xác định ngành, lĩnh vực sản phẩm theo hệ thống ngành kinh tế Việt Nam hiện hành. Cách tiếp cận này cho thấy sự liên thông giữa cơ chế xét tặng giải thưởng với hệ thống pháp luật chuyên ngành, bảo đảm tính đồng bộ trong quản lý nhà nước về chất lượng.

Đặc biệt, cấu trúc tiêu chí và thang điểm xét tặng được thiết kế theo hướng toàn diện, với tổng điểm tối đa 1.000 điểm, chia thành hai nhóm lớn. Nhóm tiêu chí thứ nhất, tối đa 250 điểm, tập trung đánh giá các thuộc tính trực tiếp của sản phẩm, hàng hóa như chất lượng, mức độ tin cậy, tính vượt trội hoặc tính độc đáo. Nhóm tiêu chí thứ hai, chiếm tối đa 750 điểm, đánh giá hiệu lực và hiệu quả của mô hình quản trị tổ chức, doanh nghiệp trên các phương diện: vai trò lãnh đạo; hoạch định và triển khai chiến lược; định hướng khách hàng; đo lường, phân tích và quản lý tri thức; quản lý nguồn nhân lực; quản lý quá trình vận hành; và kết quả hoạt động.

Cách phân bổ này thể hiện rõ quan điểm lấy quản trị làm nền tảng của chất lượng bền vững. Giải thưởng vì vậy không chỉ là cơ chế tôn vinh sản phẩm đạt chuẩn, mà còn là công cụ thúc đẩy doanh nghiệp xây dựng hệ thống quản trị hiện đại, tiếp cận các chuẩn mực tiên tiến về quản lý chất lượng toàn diện.

Về tổ chức xét tặng, Thông tư quy định Hội đồng quốc gia về Giải thưởng Chất lượng Quốc gia do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quyết định thành lập. Hội đồng gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên là đại diện các bộ, ngành, cơ quan, tổ chức có liên quan. Với thành phần liên ngành, Hội đồng có chức năng thẩm định kết quả đánh giá, xem xét danh sách sản phẩm, hàng hóa được đề xuất và bảo đảm tính khách quan trong quá trình quyết định.

Quy trình xét tặng được thiết kế theo mô hình nhiều tầng, kết hợp đánh giá hồ sơ và đánh giá thực tế. Tổ chức, doanh nghiệp đăng ký tham dự với Cơ quan thường trực Giải thưởng Chất lượng Quốc gia và nộp hồ sơ theo quy định, bao gồm đơn đăng ký, báo cáo tham dự và các tài liệu chứng minh việc áp dụng hệ thống quản lý cũng như các bằng chứng về chất lượng, độ tin cậy và tính vượt trội của sản phẩm. Nhóm chuyên gia, gồm chuyên gia kỹ thuật và chuyên gia hệ thống, được phân công đánh giá hồ sơ và lập báo cáo chi tiết. Các hồ sơ đạt từ 600 điểm trở lên được tổng hợp, báo cáo Hội đồng quốc gia để xem xét đưa vào danh sách đánh giá thực tế.

Hoạt động đánh giá thực tế có sự tham gia của đại diện cơ quan thường trực, nhóm chuyên gia, đại diện cơ quan, tổ chức liên quan và đại diện Hội đồng quốc gia. Kết quả đánh giá thực tế, cùng với báo cáo đánh giá hồ sơ, là cơ sở để Hội đồng quốc gia thẩm định và đề xuất danh sách, loại giải tương ứng. Trước khi trình Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quyết định, danh sách đề xuất còn được lấy ý kiến Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố nơi doanh nghiệp hoạt động; địa phương có trách nhiệm phản hồi bằng văn bản trong thời hạn 15 ngày. Cơ chế này tăng cường tính liên thông giữa trung ương và địa phương, đồng thời bổ sung một tầng kiểm soát về uy tín và tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp.

Sau khi có quyết định của Bộ trưởng, cơ quan thường trực thực hiện công bố kết quả, tổ chức họp báo và lễ trao giải. Doanh nghiệp đạt giải được trao Cúp và Giấy chứng nhận theo mẫu quy định. Thông tư cũng quy định rõ trách nhiệm của cơ quan thường trực trong việc xây dựng kế hoạch hằng năm, tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ chuyên gia đánh giá, xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu chuyên gia, cũng như hướng dẫn xử lý các vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện.

Thông tư có hiệu lực sau 45 ngày kể từ ngày ký ban hành và thay thế Thông tư số 27/2019/TT-BKHCN. Đối với các hồ sơ đã nộp trước thời điểm Thông tư mới có hiệu lực, việc xét tặng tiếp tục thực hiện theo quy định cũ nhằm bảo đảm tính ổn định và không làm gián đoạn quyền, lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp.

Có thể thấy, với cấu trúc quy định chặt chẽ, tiêu chí lượng hóa rõ ràng và quy trình nhiều tầng kiểm soát, Thông tư số 03/2026/TT-BKHCN đã góp phần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về Giải thưởng Chất lượng Quốc gia theo hướng minh bạch, chuyên nghiệp và tiệm cận thông lệ quốc tế. Đây không chỉ là cơ sở để nâng cao uy tín của giải thưởng, mà còn là động lực thúc đẩy cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam chuyển từ tư duy “đạt chuẩn” sang tư duy “xuất sắc và bền vững” trong quản trị và phát triển.

Theo tcvn.gov.vn