Động lực xuất khẩu đi cùng áp lực nhập khẩu
9 tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam ước đạt 432,76 tỷ USD, tăng 24% so với cùng kỳ và vượt 7,3 điểm phần trăm so với kế hoạch 9 tháng. Riêng tháng 9, xuất khẩu đạt 57,93 tỷ USD, tăng 5,7% so với tháng trước và tăng 35,5% so với cùng kỳ.
Tuy nhiên, đằng sau tốc độ tăng trưởng tích cực của xuất khẩu là mức tăng nhanh hơn của nhập khẩu. Kim ngạch nhập khẩu 9 tháng ước đạt 454,59 tỷ USD, tăng 36,9%, cao hơn tốc độ tăng xuất khẩu 12,9 điểm phần trăm. Cán cân thương mại theo đó chuyển sang nhập siêu 21,83 tỷ USD.
Theo Bộ Công Thương, khoảng 90,5% kim ngạch nhập khẩu là máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu phục vụ sản xuất. Điều này cho thấy nhập khẩu tăng một phần xuất phát từ nhu cầu mở rộng sản xuất và phục vụ các đơn hàng xuất khẩu. Tuy nhiên, mức tăng nhanh cũng cho thấy sản xuất trong nước vẫn phụ thuộc đáng kể vào nguồn nguyên liệu, linh kiện và thiết bị nhập khẩu.

Một điểm đáng chú ý khác là sự chênh lệch giữa hai khu vực doanh nghiệp trong hoạt động xuất khẩu. Khu vực FDI chiếm tới 80,9% tổng kim ngạch xuất khẩu và tăng 29,2%, trong khi khu vực doanh nghiệp trong nước chỉ tăng 6,1%.
Những con số này đặt ra yêu cầu không chỉ duy trì tốc độ tăng kim ngạch mà còn phải nâng chất lượng tăng trưởng, tăng năng lực cung ứng của doanh nghiệp nội địa và từng bước hình thành chuỗi sản xuất có giá trị gia tăng cao hơn trong nước.
Quý IV: Vừa mở thị trường, vừa giảm lệ thuộc đầu vào
Theo ông Nguyễn Anh Sơn, Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, xuất khẩu 9 tháng đã vượt chỉ tiêu nhưng nhập siêu khoảng 22 tỷ USD là thách thức lớn trong những tháng cuối năm. Cục Xuất nhập khẩu đã làm việc với 15 doanh nghiệp sản xuất máy vi tính, điện thoại và 10 doanh nghiệp nhập khẩu nông sản lớn để tìm giải pháp kiểm soát nhập siêu.
Trong quý IV, nhu cầu tiêu dùng tại nhiều thị trường quốc tế thường tăng khi bước vào mùa Noel và Tết Dương lịch. Đây được xem là dư địa để doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu, qua đó cải thiện cán cân thương mại.
Tuy nhiên, giải pháp căn cơ hơn vẫn nằm ở năng lực sản xuất trong nước. Việc phát triển công nghiệp hỗ trợ, tăng tỷ lệ cung ứng nguyên phụ liệu nội địa và nâng sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt sẽ giúp giảm dần sự phụ thuộc vào nguồn đầu vào bên ngoài.
Cùng với đó, Bộ Công Thương tiếp tục yêu cầu doanh nghiệp khai thác hiệu quả các FTA, đa dạng hóa thị trường và chủ động ứng phó với những yêu cầu mới về xuất xứ, tiêu chuẩn xanh, truy xuất nguồn gốc và phòng vệ thương mại.
Ở thị trường trong nước, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng tăng khoảng 13,1-13,6%. Đây tiếp tục là một động lực quan trọng để doanh nghiệp mở rộng sản xuất và tiêu thụ hàng hóa.
Trong quý IV, ngành Công Thương sẽ đẩy mạnh kết nối sản xuất - phân phối, kích cầu tiêu dùng và hỗ trợ hàng Việt mở rộng thị trường. Hoạt động xúc tiến thương mại cũng được tăng cường, trong đó có chương trình GoGlobal giai đoạn 2026-2030, hướng tới hỗ trợ doanh nghiệp chủ động vươn ra thị trường quốc tế.
Với bức tranh hiện nay, bài toán thương mại những tháng cuối năm không chỉ nằm ở việc xuất khẩu được bao nhiêu, mà còn ở khả năng nâng tỷ trọng giá trị do doanh nghiệp trong nước tạo ra. Khi năng lực sản xuất nội địa được cải thiện, tốc độ tăng xuất khẩu sẽ có thêm nền tảng bền vững, đồng thời sức ép từ nhập khẩu cũng từng bước được giảm bớt.
Nam Sơn (t/h)























