Ngày 2/10, Tạp chí Thương hiệu và Công luận tổ chức Talkshow “Cấp thiết ngăn chặn nội dung lệch chuẩn trên không gian mạng”, với sự tham gia của Tiến sĩ - Đại tá Phan Thanh Long, nguyên Phó Cục trưởng Cục Khoa học, Chiến lược và Lịch sử Công an nhân dân, Bộ Công an; PGS.TS Cao Vũ Minh, Trưởng Bộ môn Luật Hành chính - Nhà nước, Trường Đại học Kinh tế - Luật, ĐHQG TP.HCM; Tiến sĩ Lê Thị Mai Liên, Trưởng Khoa Tâm lý học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQG TP.HCM; Thạc sĩ - Luật sư Lê Nguyên Hòa, Giám đốc điều hành Công ty Luật TNHH LH Legal.

Các chuyên gia tham gia Talkshow “Cấp thiết ngăn chặn nội dung lệch chuẩn trên không gian mạng” ngày 2/10.
Các chuyên gia tham gia Talkshow “Cấp thiết ngăn chặn nội dung lệch chuẩn trên không gian mạng” ngày 2/10.

Talkshow tập trung phân tích những nguyên nhân khiến nội dung lệch chuẩn dễ lan truyền, ranh giới giữa nội dung lệch chuẩn và hành vi vi phạm pháp luật, trách nhiệm của các chủ thể tham gia tạo lập, phát tán nội dung, cũng như những khó khăn trong phát hiện, ngăn chặn và xử lý.

Chương trình có sự đồng hành của Công ty TNHH Thương mại đầu tư Long Sơn và Công ty Luật TNHH LH Legal.

Khi nội dung gây sốc được “thưởng” bằng sự chú ý

TS Lê Thị Mai Liên cho rằng từ góc độ tâm lý học, tâm lý học xã hội, tâm lý học truyền thông và tâm lý học thần kinh, có nhiều lý do khiến con người đặc biệt chú ý đến những thông tin gây sốc, thậm chí là những thông tin độc hại.

Một trong những yếu tố được TS Liên đề cập là thiên kiến tiêu cực. Những thông tin mang tính tiêu cực, gây tò mò hoặc gây sốc thường thu hút sự chú ý của não bộ nhiều hơn.

Bên cạnh đó là yếu tố cảm xúc, khi tiếp nhận những nội dung gây sốc, người dùng có thể cảm thấy tò mò, ngạc nhiên, sợ hãi hoặc phẫn nộ. Những cảm xúc mạnh này có thể thúc đẩy người dùng tiếp tục theo dõi và chia sẻ thông tin.

Theo TS Liên, một yếu tố khác là cơ chế “phần thưởng không thể dự đoán trước”. Khi xem một thông tin gây sốc, cơ chế dopamine có thể được kích hoạt, tạo ra sự cuốn hút tương tự cơ chế khiến con người muốn tiếp tục theo dõi những phần thưởng không thể dự đoán trước.

Việc chia sẻ thông tin cũng là cách người dùng thể hiện cảm xúc, quan điểm hoặc thu hút sự chú ý của người khác. Vì vậy, họ có thể lựa chọn những thông tin gây phẫn nộ, hấp dẫn hoặc gây sốc để đăng tải, chia sẻ.

TS Lê Thị Mai Liên, Trưởng Khoa Tâm lý học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQG TP.HCM, phân tích những yếu tố tâm lý khiến nội dung gây sốc, tiêu cực dễ thu hút sự chú ý và lan truyền trên không gian mạng.
TS Lê Thị Mai Liên, Trưởng Khoa Tâm lý học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQG TP.HCM, phân tích những yếu tố tâm lý khiến nội dung gây sốc, tiêu cực dễ thu hút sự chú ý và lan truyền trên không gian mạng.

Đáng chú ý, thuật toán của các nền tảng số cũng góp phần tạo nên một vòng lặp. Những nội dung thu hút sự chú ý, có nhiều lượt tương tác thường có khả năng tiếp tục được phân phối đến nhiều người dùng hơn. Nội dung càng được chú ý thì càng tạo tương tác; càng có tương tác lại càng có khả năng được phân phối rộng hơn.

“Chúng ta không yếu đuối. Não chúng ta đang bị khai thác đúng vào những phản xạ tự nhiên nhất” - TS Lê Thị Mai Liên nói.

Ở góc độ người tạo nội dung, TS Liên cho biết hành vi này còn được thúc đẩy bởi cơ chế củng cố hành vi. Những nội dung gây tranh cãi được “thưởng” bằng lượt xem, lượt theo dõi và đôi khi là thu nhập. Chính sự “phần thưởng” này có thể củng cố hành vi của người tạo nội dung, khiến họ tiếp tục sản xuất những nội dung tương tự.

Khi khán giả đã quen với một mức độ gây sốc nhất định, nội dung cũ có thể không còn đủ sức thu hút. Người tạo nội dung vì vậy có thể tiếp tục tìm kiếm những thứ mới lạ, độc đáo hoặc gây sốc hơn để duy trì sự chú ý.

Khi sự chú ý trở thành nguồn thu nhập, người tạo nội dung có thể xem nhẹ khía cạnh đạo đức, tập trung vào lượng người theo dõi, lượt thích, lượt xem để tạo ra thu nhập.

Từ phía người tiếp nhận, TS Liên đề cập đến hiện tượng quan hệ cận xã hội. Việc thường xuyên theo dõi một người có sức ảnh hưởng có thể tạo cho người dùng cảm giác gần gũi, thân quen. Khi đó, họ dễ bị tác động bởi những phát ngôn của người có sức ảnh hưởng.

Cùng với đó là hiệu ứng hào quang. Một người càng nổi tiếng, có nhiều người theo dõi thì công chúng càng có xu hướng tin rằng những điều người đó nói là đúng mà bỏ qua bước kiểm chứng.

“Nói cách khác, người xem có thể đánh giá nội dung dựa trên "ai nói" chứ không phải trước tiên xem xét nội dung đó có chính xác, chân thật hay không” - TS Liên phân tích.

Đối với người trẻ, Trưởng Khoa Tâm lý học nhận định đây là nhóm dễ chịu tác động bởi các nội dung trên mạng xã hội do khả năng xử lý, điều hòa cảm xúc, tư duy phản biện và quá trình hình thành bản sắc cá nhân vẫn đang phát triển.

Nếu được người lớn đồng hành, định hướng, người trẻ có thể có thêm điểm tựa để lựa chọn hình mẫu tích cực. Ngược lại, nếu thiếu sự định hướng, các em có thể tìm kiếm hình mẫu từ những người nổi tiếng hoặc có sức ảnh hưởng trên mạng xã hội.

Không gian mạng và bài toán bảo vệ an ninh quốc gia

Từ góc độ an ninh, TS - Đại tá Phan Thanh Long cho rằng sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ đã đưa Internet và không gian mạng trở thành một bộ phận quan trọng của đời sống hiện đại.

Nhìn lại thế kỷ 20 và những thập niên đầu thế kỷ 21, các thành tựu của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật đã trở thành lực lượng sản xuất quan trọng. Internet, mạng Internet toàn cầu, Internet vệ tinh cùng công nghệ máy tính và các thiết bị điện tử hiện đại đã thúc đẩy sản xuất toàn cầu, kết nối hàng tỉ người và tạo nên một “ngôi nhà toàn cầu”.

Theo TS - Đại tá Phan Thanh Long, chính vì vậy, an ninh mạng toàn cầu có vị trí quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội cũng như bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Đối với Việt Nam, bảo vệ an ninh quốc gia hiện nay không chỉ giới hạn ở những không gian truyền thống mà còn bao gồm việc bảo vệ không gian mạng và chủ quyền trên không gian mạng.

TS - Đại tá Phan Thanh Long, nguyên Phó Cục trưởng Cục Khoa học, Chiến lược và Lịch sử Công an nhân dân, Bộ Công an, phân tích những vấn đề về an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và an ninh quốc gia trong không gian mạng.
TS - Đại tá Phan Thanh Long, nguyên Phó Cục trưởng Cục Khoa học, Chiến lược và Lịch sử Công an nhân dân, Bộ Công an, phân tích những vấn đề về an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và an ninh quốc gia trong không gian mạng.

Đặc biệt, trong quá trình chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, xây dựng và khai thác dữ liệu quốc gia phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, yêu cầu bảo vệ an ninh trên không gian mạng càng trở nên quan trọng.

TS - Đại tá Phan Thanh Long cũng lưu ý nguy cơ các loại tội phạm lợi dụng mặt trái của không gian mạng để gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự cũng như các hoạt động kinh tế.

Trong đó, dữ liệu quốc gia là một trong những nguồn lực quan trọng. Theo ông, việc đánh cắp dữ liệu quốc gia cũng là một trong những mục tiêu mà tội phạm xuyên quốc gia hướng tới.

“Bảo vệ an ninh quốc gia và phát triển kinh tế - xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau. Ổn định để phát triển, phát triển ổn định” - TS - Đại tá Phan Thanh Long nhấn mạnh.

Theo ông, bảo vệ an ninh quốc gia, phòng ngừa tội phạm lợi dụng không gian mạng và tội phạm có tổ chức trên không gian mạng có ý nghĩa quan trọng đối với ổn định chính trị - xã hội, tạo nguồn lực cho phát triển kinh tế, đặc biệt là kinh tế số gắn với dữ liệu quốc gia.

Ba trụ cột để quản lý nội dung lệch chuẩn

Trong khi đó, PGS.TS Cao Vũ Minh cho rằng cần phân biệt rõ giữa nội dung lệch chuẩn về mặt đạo đức, ứng xử và hành vi vi phạm pháp luật.

Theo ông, có thể nhìn vấn đề trên hai trục: pháp luật và đạo đức. Những thông tin bị cho là phản cảm, lệch chuẩn thường được đánh giá dưới góc độ đạo đức. Tuy nhiên, để xác định một thông tin trên mạng xã hội có vi phạm pháp luật hay không thì phải căn cứ vào dấu hiệu khách quan của hành vi và quy định pháp luật cụ thể.

PGS.TS Cao Vũ Minh đưa ra các nhóm nội dung cần xem xét như thông tin xuyên tạc, sai sự thật; hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân, tổ chức; nội dung cổ súy hủ tục, mê tín dị đoan, bạo lực, phản cảm hoặc độc hại.

Ông cũng lưu ý, những phát ngôn mang tính đe dọa, tục tĩu, chửi thề có thể đi ngược chuẩn mực đạo đức, ứng xử của cộng đồng. Tuy nhiên, để kết luận đó là hành vi vi phạm pháp luật thì phải xác định được các dấu hiệu pháp lý cụ thể.

“Để kết luận một nội dung có phải là hành vi vi phạm pháp luật hay không thì phải căn cứ vào từng hành vi cụ thể, từng dấu hiệu pháp lý và quy định của pháp luật có liên quan” - PGS.TS Cao Vũ Minh nói.

Từ đó, ông cho rằng xử lý nội dung lệch chuẩn và xử lý nội dung có dấu hiệu vi phạm pháp luật là hai phạm trù có sự khác biệt. Không phải mọi nội dung lệch chuẩn đều đồng nghĩa với hành vi vi phạm pháp luật.

PGS.TS Cao Vũ Minh, Trưởng Bộ môn Luật Hành chính - Nhà nước, Trường Đại học Kinh tế - Luật, ĐHQG TP.HCM, phân tích ranh giới giữa nội dung lệch chuẩn và hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng.
PGS.TS Cao Vũ Minh, Trưởng Bộ môn Luật Hành chính - Nhà nước, Trường Đại học Kinh tế - Luật, ĐHQG TP.HCM, phân tích ranh giới giữa nội dung lệch chuẩn và hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng.

Cũng theo PGS.TS Cao Vũ Minh, hoạt động quản lý không gian mạng cần hướng đến ba mục tiêu gồm phòng ngừa, xử lý và phổ biến, giáo dục pháp luật. Ông cho rằng công tác phòng ngừa hiện nay đã đạt những kết quả nhất định. Nhiều từ khóa có tính chất phản cảm, vi phạm pháp luật khó xuất hiện trực tiếp trên các nền tảng.

Tuy nhiên, người sử dụng vẫn có thể tìm cách “bẻ” từ khóa bằng cách tách ký tự, chèn dấu chấm hoặc các ký hiệu khác. Khi đọc, người dùng vẫn hiểu nội dung, nhưng hệ thống của nền tảng có thể không nhận diện được.

PGS.TS Cao Vũ Minh cho rằng chính khâu phát hiện và xử lý đang là công đoạn khó khăn nhất. Có những nội dung bị xem là lệch chuẩn nhưng khi đối chiếu với quy định pháp luật cụ thể thì việc xác định hành vi vi phạm không đơn giản. Ông dẫn lại trường hợp một người thực hiện clip nấu cháo gà nhưng để nguyên lông con gà. Nhiều người cho rằng hành vi này trái với thuần phong mỹ tục, nhưng để xử lý cần có quá trình xác minh, đánh giá và chứng minh các yếu tố liên quan.

Trong khi đó, khoảng thời gian để xác minh, xử lý lại có thể trở thành “khoảng trống” để nội dung tiếp tục lan truyền.

“Càng chậm trong việc xử lý thì thông tin càng có khả năng lan truyền với tốc độ rất nhanh, giống như nấm sau cơn mưa” - PGS.TS Cao Vũ Minh nhận định.

Theo ông, sau khi xử lý một vụ việc, cơ quan chức năng còn có thể phải mất thêm thời gian để yêu cầu các nền tảng gỡ bỏ những nội dung đã được sử dụng, sao chép hoặc lan truyền.

Do đó, bên cạnh phòng ngừa và xử lý, cần tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật để nâng cao “sức đề kháng” của người sử dụng mạng xã hội.

Khi người dùng không nhấp vào xem, không tranh luận, không tương tác với những nội dung lệch chuẩn, những nội dung này sẽ mất đi một phần khả năng tạo tương tác và thu hút sự chú ý.

“Trong ba trụ cột gồm phòng ngừa, xử lý và phổ biến, giáo dục pháp luật, khó nhất vẫn là khâu phát hiện và xử lý. Nhưng quan trọng nhất cần nhấn mạnh là phải tăng cường "sức đề kháng" cho người sử dụng mạng xã hội” - PGS.TS Cao Vũ Minh nói.

Người có sức ảnh hưởng: Càng nhiều người theo dõi, trách nhiệm càng lớn?

Một vấn đề khác được đặt ra tại Talkshow là trách nhiệm của những người có danh tiếng, lượng người theo dõi lớn khi sử dụng sức ảnh hưởng để quảng cáo, giới thiệu hoặc trực tiếp tham gia kinh doanh hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng.

Theo ThS - Luật sư Lê Nguyên Hòa, trước hết phải xác định rằng một người có lượng người theo dõi lớn thì những nội dung họ phát ngôn, đăng tải có khả năng lan truyền nhanh và tác động đến cộng đồng lớn hơn. Do đó, trách nhiệm của nhóm chủ thể này cũng cần được xem xét tương xứng.

Bên cạnh đó, pháp luật về quảng cáo có quy định đối với người chuyển tải sản phẩm quảng cáo. Người thực hiện việc quảng bá sản phẩm có quyền nhưng đồng thời cũng có nghĩa vụ tìm hiểu nội dung mà mình đăng tải, quảng bá. Đối với người có sức ảnh hưởng, pháp luật quảng cáo có những quy định riêng.

ThS - LS Lê Nguyên Hòa, Giám đốc điều hành Công ty Luật TNHH LH Legal, phân tích ranh giới trách nhiệm pháp lý của người tạo lập, chia sẻ và quảng bá nội dung trên không gian mạng.
ThS - Luật sư Lê Nguyên Hòa, Giám đốc điều hành Công ty Luật TNHH LH Legal, phân tích ranh giới trách nhiệm pháp lý của người tạo lập, chia sẻ và quảng bá nội dung trên không gian mạng.

Một vấn đề quan trọng là nhận thức của người quảng bá: họ có biết sản phẩm mà mình quảng bá có vi phạm pháp luật hay không. Nếu biết rõ hàng hóa là hàng giả nhưng vẫn quảng bá, trong trường hợp đủ các điều kiện theo luật định, người này có thể bị xem xét trách nhiệm với vai trò đồng phạm trong hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả.

Ngược lại, nếu cho rằng mình không biết sản phẩm là hàng giả thì vấn đề sẽ phức tạp hơn, bởi việc một người có biết hay không biết liên quan đến nhận thức và phải được chứng minh bằng những tình tiết cụ thể của vụ việc.

Dù vậy, theo Luật sư Hòa, không thể đơn giản cho rằng “tôi chỉ quảng cáo” thì không có trách nhiệm. Nếu nội dung quảng cáo sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn, tùy tính chất, mức độ và dấu hiệu pháp lý cụ thể, hành vi vẫn có thể bị xem xét theo các quy định pháp luật liên quan. Đáng chú ý, nếu người quảng cáo được trả tiền hoặc hưởng lợi từ hoạt động quảng cáo thì việc xác định quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý càng cần được xem xét đầy đủ.

“Về nguyên tắc, khi đã có quyền thì đi kèm với quyền đó là nghĩa vụ; khi có nghĩa vụ thì phải thực hiện và phải chịu trách nhiệm nếu vi phạm” - ThS - Luật sư Lê Nguyên Hòa nhấn mạnh.

Trách nhiệm pháp lý không chỉ thuộc về người tạo nội dung

ThS - Luật sư Lê Nguyên Hòa cho biết thêm khi xem xét trách nhiệm pháp lý của một chủ thể trên không gian mạng, trước hết phải xác định nghĩa vụ pháp lý của chủ thể đó.

Ông khái quát thành ba nhóm nghĩa vụ: bảo đảm tính đúng đắn của nội dung; không xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức khác; đồng thời phải tuân thủ quy định pháp luật, trong đó bao gồm thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ và không thực hiện những hành vi bị pháp luật nghiêm cấm.

Từ việc xác định nghĩa vụ mới đặt ra trách nhiệm pháp lý. Theo Luật sư Hòa, trách nhiệm pháp lý có thể được nhìn nhận ở ba nhóm gồm dân sự, hành chính và hình sự.

Ở trách nhiệm dân sự, cần xem xét hành vi có xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức khác và có gây thiệt hại hay không. Nếu đủ căn cứ, người vi phạm có thể phải bồi thường, gỡ bỏ, xóa thông tin vi phạm, cải chính, xin lỗi hoặc thực hiện các biện pháp khắc phục khác theo quy định.

MC Thảo Nhi giữ vai trò Host chương trình.
MC Thảo Nhi giữ vai trò Host chương trình.

Về trách nhiệm hành chính, tùy tính chất, mức độ và hành vi cụ thể, chủ thể vi phạm có thể bị xử phạt và áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung, biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định. Nghị định 330/2026 được Chính phủ ban hành ngày 19/8/2026, có hiệu lực cùng ngày, quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Đối với trách nhiệm hình sự, nếu hành vi trên không gian mạng có đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm thì người thực hiện có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định.

Bên cạnh đó, Nghị định 327/2026 cũng được Chính phủ ban hành ngày 19/8/2026, có hiệu lực cùng ngày, quy định về phòng ngừa, xử lý thông tin và hành vi sử dụng công nghệ thông tin, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng.

Từ những phân tích trên, vấn đề trách nhiệm trên không gian mạng không chỉ dừng lại ở người trực tiếp tạo ra một nội dung.

Một người không trực tiếp sản xuất nội dung nhưng tham gia đăng tải, phát tán, quảng bá hoặc hưởng lợi có thể phát sinh trách nhiệm pháp lý, song không phải cứ chia sẻ hoặc tương tác với một nội dung là đương nhiên phải chịu trách nhiệm.

Theo luật sư Hòa, cần xem xét vai trò, hành vi cụ thể, nhận thức, mục đích, nội dung được phát tán, mức độ tham gia, hậu quả và các dấu hiệu pháp lý khác của từng chủ thể.

Điều này đặt ra yêu cầu phải phân biệt rõ giữa người vô tình chia sẻ một thông tin mà không biết là sai với người biết rõ thông tin sai sự thật nhưng vẫn cố tình đăng tải, tiếp tục phát tán nhằm thu hút sự chú ý hoặc hưởng lợi.

Từ góc độ pháp lý, việc xác định trách nhiệm vì vậy không thể chỉ dựa vào việc một người có xuất hiện trong chuỗi lan truyền thông tin hay không, mà phải căn cứ vào hành vi thực tế, vai trò và các dấu hiệu pháp lý cụ thể.

Không gian mạng càng trở thành một phần quan trọng của đời sống kinh tế - xã hội, yêu cầu về trách nhiệm của từng chủ thể càng được đặt ra rõ hơn. Từ người tạo nội dung, người có sức ảnh hưởng, người quảng bá sản phẩm đến người tiếp nhận thông tin, mỗi hành vi đều có thể góp phần làm một nội dung được lan truyền hoặc bị “triệt tiêu” bởi sự tỉnh táo của cộng đồng.

Ngăn chặn nội dung lệch chuẩn vì thế không chỉ là câu chuyện của cơ quan quản lý hay các nền tảng công nghệ. Đó còn là bài toán về tâm lý người dùng, chuẩn mực ứng xử, ý thức pháp luật và trách nhiệm của từng chủ thể trong môi trường số. Trong đó, cùng với việc hoàn thiện cơ chế phát hiện, xử lý, một “sức đề kháng” đủ mạnh của cộng đồng trước nội dung lệch chuẩn có thể trở thành một trong những yếu tố quan trọng để hạn chế sự lan truyền của những nội dung độc hại trên không gian mạng.

Trần Minh - Thanh Ngân