Áp lực tăng tốc trong những tháng cuối năm

Không khó để nhận thấy nền kinh tế đang đứng trước một bài toán khá đặc biệt. Kết quả 7 tháng đầu năm cho thấy nhiều lĩnh vực đã có bước tiến đáng kể, song để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng hai con số, chặng đường phía trước vẫn còn rất dài.

Theo đánh giá tại Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 7/2026, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định. CPI tháng 7 ước giảm 0,1% so với tháng trước, bình quân 7 tháng tăng khoảng 4,38-4,39%. Thu ngân sách nhà nước ước đạt 1,83 triệu tỷ đồng, bằng 72,5% dự toán. Kim ngạch xuất nhập khẩu 7 tháng đạt khoảng 659,6 tỷ USD, tăng 28,1% so với cùng kỳ. Vốn FDI đăng ký mới đạt 36,36 tỷ USD, tăng 50,9%, trong khi vốn FDI thực hiện đạt 15,2 tỷ USD, tăng 11,8%.

Việt Nam đặt ra mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số từ năm 2026.
Việt Nam đặt ra mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số từ năm 2026.

Sản xuất công nghiệp cũng duy trì xu hướng tích cực. Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 7 ước tăng hơn 14% so với cùng kỳ, đưa mức tăng 7 tháng lên hơn 11%, cao nhất kể từ năm 2019. Đáng chú ý, kim ngạch xuất khẩu rau quả trong tháng 7 lần đầu tiên vượt 1 tỷ USD, đạt 1,12 tỷ USD.

Những con số ấy cho thấy nền kinh tế không thiếu động lực, vấn đề là các động lực đó phải được phát huy mạnh hơn trong thời gian còn lại của năm.

Chính phủ đã đặt mục tiêu rất rõ: Tăng trưởng kinh tế năm 2026 đạt từ 10% trở lên. Theo kịch bản được xây dựng, 6 tháng cuối năm phải đạt mức tăng trưởng khoảng 11,7%, điều đó đồng nghĩa với việc dư địa cho sự chậm trễ gần như không còn nhiều.

Bài toán càng trở nên khó khăn khi một số hạn chế vẫn hiện hữu. Tăng trưởng công nghiệp, dịch vụ và xây dựng còn thấp hơn kịch bản; nhập siêu kéo dài trong 7 tháng, trong khi hoạt động xuất nhập khẩu vẫn phụ thuộc đáng kể vào khu vực doanh nghiệp FDI và một số thị trường chủ yếu; giải ngân vốn đầu tư công ở một số bộ, ngành, địa phương và công trình trọng điểm còn chậm; lãi suất cho vay tăng và áp lực thanh khoản cũng tạo sức ép lên thị trường tài chính, tiền tệ.

Đây chính là phần khó nhất của câu chuyện tăng trưởng, không phải cứ đặt mục tiêu cao là nền kinh tế tự động tăng tốc. Đằng sau mỗi điểm phần trăm tăng trưởng là vốn, thị trường, hạ tầng, nhân lực, công nghệ và quan trọng hơn cả là một môi trường kinh doanh đủ thông thoáng để nguồn lực được đưa vào sản xuất. Bởi vậy, yêu cầu được Chính phủ đặt ra trong những tháng cuối năm không đơn thuần là “tăng chi” hay “tăng tín dụng”, mà là phải khơi thông những dòng chảy đang bị nghẽn.

Khơi thông nguồn lực để doanh nghiệp có thể đi xa hơn

Trong các giải pháp được Chính phủ xác định, đầu tư công tiếp tục được xem là một trong những trụ cột quan trọng. Mục tiêu giải ngân 100% kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026 cho thấy yêu cầu không chỉ nằm ở việc bố trí vốn, mà quan trọng hơn là đưa nguồn vốn đó nhanh chóng chuyển thành những công trình, dự án và năng lực sản xuất thực tế.

Hạ tầng giao thông, năng lượng, hạ tầng số và các dự án quan trọng quốc gia nếu được đẩy nhanh sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa tới nhiều khu vực của nền kinh tế. Khi một tuyến đường được hoàn thành, một cảng biển được kết nối tốt hơn hay hạ tầng số được mở rộng, lợi ích không chỉ nằm ở bản thân công trình mà còn ở việc giảm chi phí logistics, mở rộng không gian kinh doanh và tạo điều kiện để dòng vốn tư nhân, FDI tìm đến.

Tăng trưởng hai con số và bài toán tháo gỡ những điểm nghẽn
Tăng trưởng hai con số và bài toán tháo gỡ những điểm nghẽn

Tuy nhiên, đầu tư công chỉ thực sự phát huy vai trò dẫn dắt khi đi cùng với việc huy động các nguồn lực xã hội. Chính phủ yêu cầu chủ động thu hút tối đa các nguồn vốn hợp pháp ngoài ngân sách, phát triển thị trường vốn, thúc đẩy đầu tư tư nhân và hợp tác công tư. Đây là hướng đi cần thiết trong bối cảnh nguồn lực ngân sách không thể đáp ứng tất cả nhu cầu phát triển.

Một điểm nghẽn khác được nhắc đến nhiều lần là thể chế.

Việc chậm ban hành văn bản quy định chi tiết, những quy định chồng chéo, thủ tục hành chính và các vướng mắc pháp lý trong đấu thầu, đất đai, tài chính... nếu không được xử lý sẽ tiếp tục giữ nguồn lực ở trạng thái “nằm chờ”. Vì vậy, yêu cầu tổng rà soát hệ thống pháp luật và xử lý dứt điểm những điểm nghẽn không nên được nhìn như một công việc hành chính đơn thuần, đó thực chất là một giải pháp kinh tế.

Một dự án được tháo gỡ thủ tục sớm hơn đồng nghĩa với việc vốn được đưa vào nền kinh tế sớm hơn; một doanh nghiệp giảm được chi phí tuân thủ có thêm nguồn lực để đầu tư; một quy định rõ ràng, dễ thực hiện sẽ giảm thời gian và rủi ro cho cả doanh nghiệp lẫn cơ quan quản lý.

Đây cũng là lý do Chính phủ nhấn mạnh yêu cầu nâng cao hiệu quả thực thi công vụ, khắc phục tình trạng đùn đẩy, né tránh trách nhiệm trong giải quyết thủ tục hành chính; đồng thời mở rộng dịch vụ công trực tuyến toàn trình, ứng dụng dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo để tăng tính minh bạch, hạn chế tiếp xúc trực tiếp và loại bỏ “tham nhũng vặt”.

Ở góc độ doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, những yêu cầu này càng có ý nghĩa.

Hiện cả nước có gần 1 triệu doanh nghiệp nhỏ và vừa, chiếm khoảng 97-98% tổng số doanh nghiệp. Đây là lực lượng đông đảo nhưng cũng dễ bị tổn thương trước những biến động của thị trường. Theo đánh giá được đưa ra tại cuộc họp báo, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa đang gặp “3 khó”: khó tiếp cận vốn, khó tiếp cận đất đai, mặt bằng và khó thích ứng với thủ tục hành chính.

Đáng chú ý, đến tháng 7/2026, có khoảng 155.300 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, tăng 7,6% so với cùng kỳ năm trước. Con số này cho thấy phía sau mục tiêu tăng trưởng là một thực tế không thể bỏ qua, sức khỏe của cộng đồng doanh nghiệp vẫn cần được củng cố.

Một nền kinh tế muốn tăng trưởng cao không thể chỉ dựa vào một vài doanh nghiệp lớn hay khu vực FDI. Nếu doanh nghiệp trong nước không lớn lên, không nâng được năng lực công nghệ, quản trị và khả năng tham gia chuỗi cung ứng, thì tốc độ tăng trưởng có thể đạt được trong ngắn hạn nhưng sức chống chịu của nền kinh tế về dài hạn sẽ khó bền vững.

Điều đáng chú ý là chính sách thu hút FDI cũng đang được đặt trong cách tiếp cận mới. Thay vì chủ yếu dựa vào lợi thế lao động giá rẻ hay ưu đãi thuế, định hướng hiện nay nhấn mạnh việc thu hút các dự án công nghệ cao, có khả năng lan tỏa, gắn với nghiên cứu và phát triển, đào tạo nhân lực và phát triển nhà cung ứng trong nước.

Đây là sự thay đổi cần thiết nếu Việt Nam muốn biến dòng vốn FDI thành động lực nâng chất lượng tăng trưởng, thay vì chỉ tăng quy mô vốn đăng ký.

Cùng với đó, tiêu dùng nội địa, xuất khẩu, khoa học công nghệ, chuyển đổi số và các hiệp định thương mại tự do được xác định là những động lực quan trọng. Thị trường trong nước với quy mô lớn vẫn còn dư địa để kích cầu, trong khi các FTA mở ra cơ hội đưa hàng hóa Việt Nam tiến sâu hơn vào những phân khúc có giá trị gia tăng cao nhưng cơ hội chỉ trở thành tăng trưởng khi doanh nghiệp đủ sức nắm bắt.

Điều này đặc biệt đúng trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến động. Việt Nam là nền kinh tế có độ mở lớn, phụ thuộc đáng kể vào xuất khẩu, đầu tư nước ngoài và thương mại quốc tế, bất kỳ biến động nào của thị trường bên ngoài cũng có thể tác động nhanh tới sản xuất trong nước.

Vì thế, câu chuyện tăng trưởng hai con số không nên chỉ được đo bằng tốc độ, điều quan trọng hơn là trong quá trình chạy đua với mục tiêu năm 2026, nền kinh tế có tạo được những nền tảng mới cho các năm tiếp theo hay không.

Đó là một nền sản xuất có năng suất cao hơn, một khu vực doanh nghiệp trong nước mạnh hơn, một hệ thống hạ tầng đồng bộ hơn, một môi trường kinh doanh minh bạch hơn và khả năng tự chủ lớn hơn về công nghệ.

Chính phủ đã yêu cầu các bộ, ngành, địa phương cụ thể hóa nhiệm vụ theo từng tháng, từng quý, xác định rõ cơ quan chủ trì, người chịu trách nhiệm và công khai kết quả thực hiện. Cách làm này cho thấy áp lực tăng trưởng đang được chuyển từ mục tiêu chung thành trách nhiệm cụ thể của từng cấp, từng ngành.

Nửa cuối năm 2026 vì thế sẽ là chặng đường nhiều thử thách. Tăng trưởng 10% trở lên là mục tiêu đầy tham vọng, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa, tiền tệ, đầu tư công và cải cách thể chế nhưng nếu nhìn rộng hơn, sức ép ấy cũng có thể trở thành động lực để những điểm nghẽn tồn tại lâu nay được xử lý quyết liệt hơn.

Bởi suy cho cùng, một nền kinh tế mạnh không chỉ là nền kinh tế tăng trưởng nhanh trong một năm, đó phải là nền kinh tế biết biến nguồn lực thành sức sản xuất, biến cải cách thành năng lực cạnh tranh và biến những cơ hội trước mắt thành nền tảng phát triển lâu dài.

Mục tiêu hai con số vì vậy không chỉ là câu chuyện của những tháng cuối năm 2026, đó còn là phép thử về khả năng tạo ra một chu kỳ tăng trưởng mới, trong đó Nhà nước kiến tạo, doanh nghiệp chủ động và các nguồn lực của nền kinh tế được khơi thông mạnh mẽ hơn.

Lê Hằng