Sau khi giảm mạnh trong tháng 6 do bước vào giai đoạn giao mùa, xuất khẩu chè Việt Nam phục hồi rõ rệt trong tháng 7/2026. Việt Nam xuất khẩu khoảng 13.500 tấn chè, thu gần 28 triệu USD, tăng lần lượt 71% về lượng và 92% về trị giá so với tháng trước. So với cùng kỳ năm 2025, lượng xuất khẩu giảm 1% nhưng kim ngạch tăng 15%.

Lũy kế 7 tháng, Việt Nam xuất khẩu khoảng 64.500 tấn chè, trị giá gần 117 triệu USD, giảm 10% về lượng nhưng chỉ giảm 3% về kim ngạch. Giá xuất khẩu bình quân đạt khoảng 1.811 USD/tấn, tăng 7% so với cùng kỳ. Riêng tháng 7, giá đạt khoảng 2.060 USD/tấn, tăng 12% so với tháng 6 và 17% so với cùng kỳ, cao nhất kể từ đầu năm 2025.
Pakistan vẫn là thị trường xuất khẩu chè lớn nhất của Việt Nam, song nhu cầu giảm mạnh. Lượng chè xuất khẩu sang thị trường này trong 7 tháng giảm khoảng 67% so với cùng kỳ, khiến tỷ trọng trong tổng lượng xuất khẩu giảm từ hơn 33% xuống khoảng 12%.
Trong khi đó, Đài Loan (Trung Quốc) vươn lên vị trí thứ hai, nhập khoảng 7.800 tấn chè, chiếm 12% tổng lượng xuất khẩu, với kim ngạch tăng 12%. Trung Quốc đứng thứ ba nhưng lượng chè xuất khẩu sang thị trường này giảm khoảng 19%.
Ở chiều ngược lại, xuất khẩu chè sang Hoa Kỳ, Nga, Malaysia, Philippines, Thổ Nhĩ Kỳ, Đức và Ukraine đều tăng so với cùng kỳ, trong đó Thổ Nhĩ Kỳ tăng hơn 280%. Tuy nhiên, một số thị trường như Iraq, Indonesia, Ấn Độ, UAE và Kazakhstan lại giảm.
Việt Nam hiện đứng thứ 5 thế giới về xuất khẩu chè, với khoảng 130.000 ha chè, sản lượng gần 1 triệu tấn chè búp tươi mỗi năm. Chè Việt Nam đã có mặt tại hơn 70 quốc gia, nhưng việc Pakistan và một số thị trường truyền thống giảm nhập khẩu cho thấy ngành chè cần tiếp tục đa dạng hóa thị trường, đồng thời đẩy mạnh các sản phẩm chế biến sâu.
Chi Chi (t/h)























