
NHNN chuyển sang hỗ trợ tăng trưởng, dư địa giảm lãi suất được mở rộng
Trong báo cáo chiến lược thị trường Việt Nam mang tên "Sau cơn mưa" công bố đầu tháng 7, Maybank IBG Research nhận định, nửa đầu năm 2026 là giai đoạn đầy thách thức đối với công tác điều hành chính sách tiền tệ khi xung đột Mỹ - Iran đẩy áp lực lạm phát gia tăng.
Theo nhóm phân tích, lạm phát trong tháng 4 và tháng 5/2026 tăng lên khoảng 5,5 - 5,6% so với cùng kỳ, cao hơn đáng kể so với mức khoảng 3,5% trước đó. Dù vậy, Ngân hàng Nhà nước vẫn giữ nguyên mục tiêu tăng trưởng tín dụng cả năm ở mức 15%, duy trì các mức lãi suất điều hành và tiếp tục bơm thanh khoản quy mô lớn thông qua kênh thị trường mở (OMO), thay vì chuyển sang chính sách tiền tệ thắt chặt.
Maybank IBG Research cho rằng, việc nhà điều hành lựa chọn để thị trường tự điều tiết một phần áp lực lạm phát đã khiến lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng tăng thêm khoảng 100 - 200 điểm cơ bản trong giai đoạn cao điểm.
Đáng chú ý, khi áp lực lạm phát và tỷ giá bắt đầu hạ nhiệt, chính sách tiền tệ cũng chuyển sang trạng thái chủ động hơn nhằm hỗ trợ tăng trưởng.
Một trong những quyết định đáng chú ý là Ngân hàng Nhà nước loại trừ các khoản vay dành cho một số dự án hạ tầng trọng điểm do Vingroup, Sun Group và Masterise phát triển khỏi hạn mức tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng thương mại.
Các dự án này bao gồm trung tâm hội nghị APEC, mở rộng sân bay Phú Quốc, tuyến đường sắt Bến Thành - Cần Giờ và đường sắt tốc độ cao Hà Nội - Quảng Ninh.
Theo ước tính của Maybank IBG Research, tổng dư nợ tín dụng dành cho nhóm dự án này có thể đạt khoảng 750.000 tỷ đồng trong giai đoạn 2026 - 2033. Riêng năm 2026, quy mô giải ngân dự kiến khoảng 210.000 tỷ đồng, tương đương khoảng 1% tổng dư nợ toàn hệ thống nhưng không tính vào mục tiêu tăng trưởng tín dụng 15%.
Song song đó, Thông tư số 25/2026/TT-NHNN cũng nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40%.
Theo Maybank IBG Research, mặc dù chính sách trước mắt hướng đến một số dự án quy mô lớn, nhưng hiệu ứng sẽ lan tỏa sang toàn bộ nền kinh tế khi bảng cân đối của các ngân hàng được nới lỏng, qua đó tạo thêm dư địa cấp tín dụng cho nhiều doanh nghiệp khác.
Thanh khoản ngân hàng dần cải thiện, kỳ vọng lãi suất tiếp tục giảm
Báo cáo cho rằng, điểm nghẽn lớn nhất của nền kinh tế hiện nay không còn nằm ở nhu cầu tín dụng mà ở thanh khoản hệ thống ngân hàng.
Theo phân tích, nhiều năm tăng trưởng tín dụng cao hơn tốc độ huy động đã tạo ra khoảng cách lớn giữa nguồn vốn và nhu cầu sử dụng vốn. Bên cạnh đó, xu hướng người dân chuyển một phần tiền gửi sang vàng, USD và bất động sản cũng làm giảm tốc độ tăng huy động.
Một yếu tố khác là khoảng 900.000 tỷ đồng tồn quỹ Kho bạc Nhà nước vẫn đang gửi tại Ngân hàng Nhà nước thay vì lưu thông qua hệ thống ngân hàng thương mại.
Để xử lý vấn đề này, nhiều giải pháp kỹ thuật đã được triển khai.
Theo đó, các ngân hàng được tính 20% tiền gửi Kho bạc Nhà nước vào mẫu số khi xác định tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR), trong khi Nghị quyết 168/NQ-CP cũng cho phép Kho bạc Nhà nước gửi tiền nhàn rỗi tại các ngân hàng thương mại vượt giới hạn 50% khi cần thiết.
Nhờ những giải pháp trên, cùng với việc huy động vốn toàn hệ thống tăng khoảng 5,2% trong giai đoạn từ tháng 3 đến tháng 6/2026, gần tương đương tốc độ tăng tín dụng 5,4%, lãi suất liên ngân hàng qua đêm đã giảm về vùng 3 - 4%.
Trên cơ sở đó, Maybank IBG Research dự báo lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng sẽ tiếp tục giảm từ vùng 7,5 - 8%/năm ghi nhận trong tháng 3 - 4 xuống khoảng 7% vào cuối năm 2026.
Đơn vị này cũng kỳ vọng lạm phát sẽ giảm xuống dưới 5%, dù vẫn cao hơn mục tiêu 4,5% của Chính phủ, qua đó tạo dư địa để Ngân hàng Nhà nước ưu tiên mục tiêu tăng trưởng GDP khoảng 10% trong giai đoạn 2026 - 2027.
Chứng khoán chờ cú hích nâng hạng, dòng vốn ngoại có thể đạt 6 - 8 tỷ USD
Đối với thị trường chứng khoán, Maybank IBG Research đánh giá quý II/2026 ghi nhận sự phục hồi đáng kể của VN-Index.
Chỉ số tăng khoảng 11% trong quý II, bù đắp toàn bộ mức giảm của quý I và tăng khoảng 4,1% trong nửa đầu năm. Trong giai đoạn này, VN-Index từng lập đỉnh lịch sử gần 1.927 điểm trước khi điều chỉnh về quanh 1.860 điểm vào cuối quý.
Tuy nhiên, diễn biến tích cực chủ yếu đến từ nhóm cổ phiếu liên quan Vingroup. Nếu loại trừ nhóm này, VN-Index thực tế giảm khoảng 0,8% trong quý II.
Thanh khoản vẫn là điểm cần lưu ý khi giá trị giao dịch bình quân mỗi phiên chỉ còn khoảng 23.000 tỷ đồng trong quý II, giảm khoảng 25% so với quý trước. Riêng tháng 6, thanh khoản chỉ đạt khoảng 18.000 tỷ đồng mỗi phiên - mức thấp nhất trong vòng 5 năm.
Trong khi đó, nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục bán ròng khoảng 46.000 tỷ đồng trong quý II, tăng khoảng 50% so với quý trước, tập trung vào nhóm ngân hàng, bất động sản dân dụng và công nghệ thông tin.
Ở góc độ định giá, Maybank IBG Research cho biết VN-Index hiện giao dịch ở mức P/E khoảng 14,2 lần, tương đương mức trung bình 5 năm. Tuy nhiên, nếu loại bỏ nhóm cổ phiếu liên quan Vingroup, P/E của thị trường chỉ còn khoảng 11,5 lần, thấp hơn mức trung bình lịch sử khoảng một độ lệch chuẩn.
Các nhóm ngành như đồ uống, công nghệ thông tin, năng lượng, xây dựng, bất động sản khu công nghiệp và bán lẻ được đánh giá vẫn còn dư địa tăng giá khi định giá chưa phản ánh đầy đủ triển vọng tăng trưởng.
Theo Maybank IBG Research, động lực đáng kỳ vọng nhất trong giai đoạn tới là việc FTSE triển khai lộ trình nâng hạng thị trường Việt Nam từ tháng 9/2026.
Đơn vị này ước tính quá trình nâng hạng có thể thu hút khoảng 6 - 8 tỷ USD vốn đầu tư quốc tế trong những năm tới, góp phần cải thiện thanh khoản, hỗ trợ tỷ giá và nâng mặt bằng định giá của thị trường chứng khoán Việt Nam.
Cùng với đó, nền tảng kinh tế vĩ mô tiếp tục được củng cố khi vốn FDI đăng ký và giải ngân trong 5 tháng đầu năm 2026 tăng lần lượt khoảng 35% và 10% so với cùng kỳ.
Maybank IBG Research cho rằng, nếu lãi suất tiếp tục giảm, lạm phát duy trì xu hướng đi xuống và dòng vốn từ quá trình nâng hạng được kích hoạt đúng kỳ vọng, thị trường chứng khoán Việt Nam không chỉ có cơ hội phục hồi thanh khoản sau giai đoạn trầm lắng của quý II mà còn có thể bước sang một chu kỳ tăng trưởng mới với mặt bằng định giá cao hơn, trở thành kênh dẫn vốn quan trọng phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số.
Phương Thảo(t/h)






















