Ba kịch bản, một áp lực nâng năng lực sản xuất
Tại dự thảo Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đang được lấy ý kiến, Bộ Công Thương đưa ra ba kịch bản về quy mô xuất khẩu. Theo đó, kim ngạch năm 2030 có thể đạt 765 tỷ USD ở kịch bản thấp, 953,7 tỷ USD ở kịch bản trung bình và 1.041,1 tỷ USD ở kịch bản cao.
So với mức xuất khẩu 475 tỷ USD năm 2025, kịch bản cao đòi hỏi quy mô xuất khẩu tăng hơn gấp đôi sau 5 năm. Đây là mục tiêu đầy tham vọng, nhất là khi thương mại toàn cầu còn đối mặt với những biến động khó lường, cạnh tranh thị trường gia tăng và các yêu cầu ngày càng khắt khe về chất lượng, công nghệ, môi trường.
Theo dự thảo, giai đoạn 2026-2030, xuất khẩu hàng hóa phấn đấu tăng bình quân 15-16% mỗi năm, trong khi nhập khẩu tăng 12-13% mỗi năm. Việt Nam hướng tới duy trì xuất siêu bình quân tương đương 3-6% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Để đạt mục tiêu, tăng trưởng xuất khẩu cần dựa trên năng lực sản xuất thực chất, thay vì chỉ mở rộng hoạt động gia công hoặc phụ thuộc vào chu kỳ đơn hàng quốc tế. Nâng cao năng lực chế biến, chế tạo, phát triển sản phẩm công nghệ cao và đa dạng hóa thị trường sẽ là những yếu tố quyết định khả năng duy trì đà tăng trưởng.
Bà Nguyễn Cẩm Trang, đại diện Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), cho rằng trong bối cảnh Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, xuất khẩu tiếp tục là một động lực quan trọng. Vì vậy, mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu cần phù hợp với yêu cầu phát triển mới, đi cùng cải cách thủ tục hành chính, nâng năng lực sản xuất, phát triển vận tải và mở rộng thị trường.
Nâng tỷ trọng doanh nghiệp nội, tăng giá trị xuất khẩu
Thách thức lớn không chỉ nằm ở quy mô kim ngạch mà còn ở cơ cấu đóng góp giữa các khu vực doanh nghiệp. Sau 9 tháng năm 2026, xuất khẩu cả nước đạt 434,3 tỷ USD, nhưng khu vực doanh nghiệp trong nước chỉ chiếm 19,3%, trong khi khu vực FDI chiếm 80,7%.
Trước thực tế này, dự thảo chiến lược đặt mục tiêu nâng tỷ trọng xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước lên 28-30% vào năm 2030 và 38-40% vào năm 2045. Đây là bước chuyển quan trọng nhằm tăng khả năng tự chủ của nền kinh tế và hạn chế sự phụ thuộc quá lớn vào khu vực FDI.
Song song với đó, tỷ trọng hàng chế biến, chế tạo hoặc đã tinh chế trong tổng kim ngạch xuất khẩu được định hướng đạt 89-90% vào năm 2030 và trên 92% vào năm 2045. Tỷ lệ giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao trong nhóm hàng chế biến, chế tạo cũng được đặt mục tiêu đạt khoảng 50% vào năm 2030, tăng lên trên 55% vào năm 2045.
Để những mục tiêu này trở thành hiện thực, phát triển công nghiệp hỗ trợ cần được xem là một trọng tâm. Ông Phạm Văn Quân, Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp, nhấn mạnh yêu cầu củng cố nền tảng sản xuất trong nước, tạo điều kiện để doanh nghiệp công nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu và giảm phụ thuộc vào nguyên phụ liệu nhập khẩu.
Khi doanh nghiệp Việt Nam có thể cung ứng linh kiện, nguyên phụ liệu và sản phẩm công nghiệp hỗ trợ, mức độ chủ động của chuỗi sản xuất sẽ được cải thiện, đồng thời tăng cơ hội tham gia vào những công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn.
Về dài hạn, dự thảo đặt mục tiêu đến năm 2045, Việt Nam nằm trong nhóm 10 quốc gia có kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu lớn nhất thế giới, với tỷ lệ xuất siêu đạt 7-10%.
Tuy nhiên, thước đo thành công không nên chỉ dừng ở thứ hạng hay tổng kim ngạch. Điều quan trọng là doanh nghiệp nội địa có nâng được năng lực công nghệ, làm chủ nguồn cung và giữ lại nhiều giá trị hơn từ mỗi sản phẩm xuất khẩu hay không. Đây sẽ là nền tảng để tham vọng vượt mốc 1.000 tỷ USD trở thành động lực tăng trưởng bền vững.
Nam Sơn (t/h)























