Mức đóng bảo hiểm xã hội của cán bộ thôn
Mức đóng bảo hiểm xã hội của cán bộ thôn

Vấn đề trên được một người hoạt động không chuyên trách ở thôn, gửi câu hỏi phản ánh tới cơ quan quản lý. Theo đó, dù thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định pháp luật nhưng không ký hợp đồng lao động, cán bộ không chuyên trách tại địa phương công tác lại bị yêu cầu tự chi trả toàn bộ 25% mức đóng tính trên tiền lương tháng. Như vậy việc buộc người lao động gánh toàn bộ nghĩa vụ tài chính là trái với cơ chế bảo hiểm xã hội bắt buộc, bởi người sử dụng lao động phải có trách nhiệm đóng phần của mình và chỉ được phép trích 8% từ thu nhập của người hưởng lương.

Trả lời nội dung này, Bộ Nội vụ viện dẫn Điểm k Khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội quy định người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố là đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Tỷ lệ, phương thức và kỳ hạn đóng của cả người lao động lẫn người sử dụng lao động đã được quy định chi tiết tại Điều 33 và Điều 34 của đạo luật này.

Cụ thể, nghĩa vụ tài chính hàng tháng của người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố chỉ bằng 8% tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, nộp vào quỹ hưu trí và tử tuất.

Về phía người sử dụng lao động, trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc tính trên mức lương căn cứ của cán bộ thôn gồm 3% vào quỹ ốm đau, thai sản cùng 14% vào quỹ hưu trí và tử tuất, tổng cộng là 17%. Như vậy, việc yêu cầu cá nhân người hoạt động không chuyên trách tự đóng trọn vẹn 25% là không đúng với quy định pháp luật hiện hành.

Khung pháp lý về chế độ, chính sách đối với nhóm cán bộ này cũng được Chính phủ hoàn thiện tại Nghị định số 185/2026/NĐ-CP. Khoản 3 Điều 16 của nghị định nêu rõ người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố được thụ hưởng đầy đủ chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế cùng các quyền lợi khác theo luật định.

Mặt khác, Điều 15 Nghị định số 185/2026/NĐ-CP quy định nguồn kinh phí đóng bảo hiểm thuộc trách nhiệm của phía sử dụng lao động đã nằm trong quỹ phụ cấp do ngân sách nhà nước khoán hàng tháng cho thôn, tổ dân phố. Quỹ khoán này gồm 8,0 lần mức lương cơ sở đối với thôn từ 700 hộ, tổ dân phố từ 1.000 hộ trở lên hoặc địa bàn trọng điểm quốc phòng, biên giới, hải đảo, khó khăn; và 6,5 lần mức lương cơ sở đối với các địa bàn còn lại. Căn cứ trên quỹ khoán chung và ngân sách địa phương, UBND cấp tỉnh có trách nhiệm trình HĐND cùng cấp quyết định mức phụ cấp cụ thể và việc thực hiện trích đóng bảo hiểm theo đúng quy định.

Tâm An