Dòng tiền chuyển hướng, doanh nghiệp chịu áp lực chi phí vốn

Theo MBS Research, trong tháng 7/2026, tổng giá trị TPDN phát hành đạt gần 41.000 tỷ đồng, giảm tới 69% so với tháng trước và thấp hơn 9,5% so với cùng kỳ năm 2025. Sự sụt giảm này chủ yếu đến từ nhóm bất động sản khi giá trị phát hành giảm 92,5% so với tháng 6, xuống khoảng 5.000 tỷ đồng.

Trái ngược với bất động sản, ngân hàng trở thành lực kéo chính của thị trường, chiếm khoảng 86% tổng giá trị phát hành trong tháng. Đáng chú ý, Agribank phát hành 14.700 tỷ đồng trái phiếu ra công chúng với kỳ hạn tới 120 tháng, lãi suất 7,9%/năm.

Tính chung 7 tháng, thị trường ghi nhận gần 322.300 tỷ đồng TPDN được phát hành, tăng 2,7% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, phía sau con số tăng trưởng khiêm tốn này là sự phân hóa ngày càng rõ giữa các nhóm ngành.

Thị trường trái phiếu doanh nghiệp đang phân hóa mạnh khi quy mô phát hành chậm lại, trong khi chi phí huy động vốn và mặt bằng lợi suất tiếp tục tăng.
Thị trường trái phiếu doanh nghiệp đang phân hóa mạnh khi quy mô phát hành chậm lại, trong khi chi phí huy động vốn và mặt bằng lợi suất tiếp tục tăng.

Ngân hàng vẫn đứng đầu về quy mô với khoảng 156.000 tỷ đồng, chiếm 48,5% tổng lượng phát hành, dù giảm 34,5% so với cùng kỳ. Trong khi đó, bất động sản đạt 141.100 tỷ đồng, chiếm 43,8% và tăng tới 224%.

Điểm đáng chú ý hơn nằm ở chi phí huy động. Riêng tháng 7, cả ba đợt phát hành của doanh nghiệp bất động sản đều có lãi suất 12,5%/năm. Mức này khiến lãi suất bình quân của nhóm tăng 120 điểm cơ bản chỉ trong một tháng.

Ở nhóm ngân hàng, lãi suất phát hành phổ biến từ 7,9% đến 10%/năm. STB ghi nhận mức cao nhất 10%/năm đối với ba lô trái phiếu phát hành trong kỳ.

Tính chung 7 tháng, lãi suất bình quân gia quyền của thị trường ước khoảng 9,5%/năm, cao hơn 1,4 điểm phần trăm so với đầu năm và tăng mạnh so với mức 6,8% của cùng kỳ năm 2025.

Diễn biến này cho thấy bài toán huy động vốn đang trở nên đắt đỏ hơn, đặc biệt với những doanh nghiệp có nhu cầu vốn lớn và phụ thuộc nhiều vào thị trường trái phiếu. Trong bối cảnh đó, việc phát hành không chỉ phụ thuộc vào nhu cầu vốn mà còn phải cân nhắc khả năng hấp thụ chi phí lãi vay trong những năm tới.

Áp lực đáo hạn chưa lớn nhưng rủi ro vẫn phân hóa

Một tín hiệu khác đáng chú ý là hoạt động mua lại trái phiếu trước hạn đang chậm lại. Trong tháng 7, giá trị TPDN được mua lại trước hạn chỉ khoảng 16.500 tỷ đồng, giảm 76,7% so với tháng trước và giảm 38,6% so với cùng kỳ.

Sự sụt giảm chủ yếu đến từ ngân hàng khi lượng trái phiếu mua lại trước hạn giảm 78,6% so với tháng 6, xuống khoảng 14.000 tỷ đồng.

Dù vậy, tính lũy kế 7 tháng, doanh nghiệp vẫn đã mua lại trước hạn khoảng 168.800 tỷ đồng TPDN, tăng 11% so với cùng kỳ. Nhóm ngân hàng chiếm tới 86,5% tổng giá trị mua lại.

Trong quý III/2026, khoảng 30.900 tỷ đồng TPDN được dự báo đáo hạn, giảm 47% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, bất động sản chiếm khoảng 61%, tương đương 18.900 tỷ đồng. Điều này cho thấy áp lực thanh toán không phân bổ đồng đều mà tập trung nhiều hơn ở nhóm doanh nghiệp bất động sản.

Đến cuối tháng 7, giá trị các trái phiếu đang chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán ước gần 43.000 tỷ đồng, tương đương khoảng 3% dư nợ TPDN toàn thị trường. Quy mô này chưa tạo ra áp lực diện rộng, nhưng vẫn là yếu tố cần theo dõi trong bối cảnh chi phí huy động mới tăng lên.

Trong khi đó, thị trường trái phiếu Chính phủ cũng đang phản ánh xu hướng mặt bằng lợi suất đi lên. Tháng 7, Kho bạc Nhà nước huy động thành công 18.600 tỷ đồng, giảm 20,4% so với tháng trước, dù tổng giá trị gọi thầu tăng 1,5%.

Lũy kế 7 tháng, lượng TPCP phát hành đạt 201.200 tỷ đồng, tương đương 40,2% kế hoạch cả năm. Lợi suất trúng thầu các kỳ hạn từ 5-30 năm tiếp tục tăng. Trên thị trường thứ cấp, lợi suất kỳ hạn 10 năm kết tháng ở mức 4,41%/năm, trong khi kỳ hạn 2 năm lên 3,57%/năm.

Theo MBS Research, lợi suất TPCP có khả năng tiếp tục duy trì ở mức cao trong tháng 8, khi nhu cầu phát hành còn lớn và xu hướng lợi suất toàn cầu tăng tạo thêm áp lực lên thị trường trong nước.

Như vậy, câu chuyện đáng chú ý của thị trường trái phiếu hiện không còn nằm ở việc tổng lượng phát hành tăng hay giảm, mà là doanh nghiệp phải trả bao nhiêu để tiếp cận nguồn vốn. Khi lãi suất phát hành tăng, những doanh nghiệp có nền tảng tài chính tốt và khả năng tạo dòng tiền ổn định sẽ có lợi thế hơn, trong khi nhóm sử dụng đòn bẩy cao, đặc biệt trong lĩnh vực bất động sản, sẽ phải đối mặt với áp lực tái cấp vốn và cân đối dòng tiền lớn hơn.

Nam Sơn (t/h)