Lấy hiệu quả làm thước đo phân bổ ngân sách

Tại phiên thảo luận ngày 22/8, nhiều đại biểu cho rằng điểm quan trọng nhất của việc hợp nhất hai đạo luật không nằm ở việc gom các quy định về cùng một văn bản, mà phải tạo ra một phương thức quản trị tài chính công phù hợp hơn với yêu cầu phát triển mới.

Đại biểu Nguyễn Thành Trung (Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lào Cai) cho rằng, ngân sách nhà nước và đầu tư công đều trực tiếp liên quan đến việc huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực quốc gia. Vì vậy, quá trình hợp nhất cần được xem là cơ hội để thay đổi tư duy quản lý, trong đó hiệu quả kinh tế - xã hội phải trở thành tiêu chí quan trọng khi quyết định phân bổ vốn.

Theo đại biểu, việc giao vốn không nên chỉ căn cứ vào danh mục dự án hoặc các thủ tục hành chính, mà cần dựa trên đánh giá định lượng về tác động của từng dự án. Những công trình có khả năng giải quyết điểm nghẽn hạ tầng, tạo tác động lan tỏa và đóng góp rõ ràng cho tăng trưởng cần được ưu tiên.

Quốc hội thảo luận về định hướng xây dựng Luật Ngân sách nhà nước hợp nhất, trong đó đặt trọng tâm vào nâng cao hiệu quả phân bổ và sử dụng nguồn lực công. Ảnh quochoi.vn
Quốc hội thảo luận về định hướng xây dựng Luật Ngân sách nhà nước hợp nhất, trong đó đặt trọng tâm vào nâng cao hiệu quả phân bổ và sử dụng nguồn lực công. Ảnh quochoi.vn

Cách tiếp cận này cũng đặt ra yêu cầu thay đổi ở khâu đánh giá sau đầu tư. Thay vì chủ yếu kiểm tra dự án có thực hiện đúng quy trình hay không, cơ quan quản lý cần quan tâm công trình sau khi hoàn thành có đạt mục tiêu, tạo ra giá trị kinh tế - xã hội như cam kết hay không.

Đại biểu Nguyễn Thành Trung đồng thời đề nghị cá thể hóa trách nhiệm của người đứng đầu. Người quyết định đầu tư và người trực tiếp quản lý dự án cần chịu trách nhiệm không chỉ về tính hợp pháp của hồ sơ mà cả hiệu quả thực tế của nguồn vốn.

Tuy nhiên, cùng với yêu cầu trách nhiệm, đại biểu cũng đặt vấn đề xây dựng cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, nhất là trong những trường hợp việc điều chỉnh phương án thực hiện xuất phát từ lợi ích chung, không có động cơ vụ lợi và giúp dự án đạt hiệu quả tốt hơn.

Đây được xem là một trong những bài toán khó khi chuyển sang quản lý theo kết quả: làm sao kiểm soát chặt dòng tiền nhưng không biến các quy định thành rào cản khiến người thực thi né tránh trách nhiệm hoặc không dám đưa ra quyết định.

Phân cấp mạnh hơn, kiểm soát bằng dữ liệu

Một vấn đề khác được nhiều đại biểu quan tâm là sự chồng chéo giữa các quy định về ngân sách và đầu tư công. Theo đại biểu Trần Hoàng Ngân (Đoàn đại biểu Quốc hội TP. Hồ Chí Minh), một nguồn vốn đầu tư công hiện có thể đồng thời chịu sự điều chỉnh của nhiều quy trình, khiến thời gian chuẩn bị và triển khai dự án kéo dài.

Việc hợp nhất hai luật được kỳ vọng sẽ khắc phục tình trạng này, đồng thời tạo sự thống nhất giữa kế hoạch tài chính và kế hoạch đầu tư công. Theo đại biểu, có thể nghiên cứu hợp nhất kế hoạch tài chính 5 năm với kế hoạch đầu tư công 5 năm để việc phân bổ nguồn lực sát hơn với các mục tiêu phát triển trung hạn.

Song song với việc giảm tầng nấc thủ tục, yêu cầu phân cấp, phân quyền cũng được đặt ra rõ hơn. Theo hướng này, địa phương cần được trao thêm quyền quyết định đối với nguồn lực thuộc phạm vi quản lý, trong khi Trung ương tập trung vào xây dựng nguyên tắc, tiêu chuẩn và cơ chế giám sát.

Đại biểu Trần Hoàng Ngân cho rằng, một số tiêu chí thường xuyên thay đổi, chẳng hạn quy mô vốn dự án, có thể được giao Chính phủ quy định chi tiết thay vì đưa quá nhiều nội dung cứng vào luật. Cách làm này giúp hệ thống pháp luật có độ linh hoạt cao hơn khi điều kiện kinh tế thay đổi.

Trong khi đó, đại biểu Lê Hữu Trí (Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Khánh Hòa) nhấn mạnh, cần xác định rõ trách nhiệm cá nhân xuyên suốt vòng đời dự án, từ lập chủ trương đầu tư, thiết kế, đấu thầu, thi công cho tới nghiệm thu, thanh toán và quyết toán.

Theo đại biểu, cơ chế kiểm soát cần được thiết lập ngay từ đầu thay vì chờ đến khi dự án phát sinh sai phạm mới xử lý. Muốn vậy, chuyển đổi số và xây dựng cơ sở dữ liệu liên thông giữa các cơ quan quản lý, thanh tra, kiểm toán cần được coi là một phần của phương thức quản trị mới.

Khi dữ liệu về dự án, vốn, tiến độ, giải ngân và kết quả được kết nối, cơ quan quản lý có thể nhận diện sớm những dự án có nguy cơ chậm tiến độ, tăng tổng mức đầu tư hoặc không đạt mục tiêu. Đây cũng là nền tảng để chuyển từ phương thức kiểm tra thủ công sang giám sát dựa trên dữ liệu.

Như vậy, việc hợp nhất hai luật đang được đặt trong một yêu cầu rộng hơn: đổi cách Nhà nước quản lý nguồn lực công. Phân cấp phải đi cùng trách nhiệm, trao quyền phải gắn với kiểm soát và ngân sách không chỉ được đánh giá ở mức đã chi bao nhiêu, mà quan trọng hơn là tạo ra kết quả gì.

Nếu những nguyên tắc này được thể chế hóa rõ ràng, Luật Ngân sách nhà nước hợp nhất có thể trở thành công cụ quan trọng để rút ngắn quy trình, khơi thông vốn đầu tư công và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực trong giai đoạn phát triển mới.

Minh Thành (t/h)