Những mảnh ghép mới của nền kinh tế

Mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên bình quân giai đoạn 2026-2030 đòi hỏi Việt Nam không chỉ phát huy các động lực truyền thống mà còn phải mở rộng những nguồn tăng trưởng mới. Trong đó, các mô hình kinh tế mới đang nổi lên không phải như những lĩnh vực tách biệt, mà ngày càng có sự giao thoa về công nghệ, vốn, thị trường và hạ tầng.

Kinh tế số có thể xem là lớp hạ tầng kết nối nhiều hoạt động. Giai đoạn 2021-2025, kinh tế số đóng góp bình quân 13,2% GDP. Riêng năm 2025, tỷ trọng này đạt khoảng 14,02%, tăng 1,64 lần so với năm 2020. Dữ liệu, điện toán, trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT) và các nền tảng số đang thay đổi cách doanh nghiệp sản xuất, phân phối và tiếp cận người tiêu dùng.

Kết nối kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế bạc và kinh tế đêm được kỳ vọng tạo thêm động lực, mở rộng không gian tăng trưởng và nâng cao chất lượng phát triển kinh tế Việt Nam. Ảnh minh họa
Kết nối kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế bạc và kinh tế đêm được kỳ vọng tạo thêm động lực, mở rộng không gian tăng trưởng và nâng cao chất lượng phát triển kinh tế Việt Nam. Ảnh minh họa

Nhưng giá trị của kinh tế số không chỉ nằm ở tỷ trọng đóng góp trực tiếp. Khi được đưa vào quản lý năng lượng, sản xuất, logistics hay đô thị, công nghệ số có thể giúp tiết kiệm tài nguyên, giảm chi phí và tạo điều kiện cho các mô hình kinh tế xanh phát triển.

Kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn vì vậy có mối liên hệ ngày càng chặt chẽ. Nếu kinh tế xanh đặt ra yêu cầu giảm phát thải, sử dụng hiệu quả tài nguyên thì kinh tế tuần hoàn cung cấp phương thức để thực hiện thông qua tái sử dụng, sửa chữa, tái chế và kéo dài vòng đời sản phẩm.

Cùng với đó, sự thay đổi cơ cấu dân số đang mở ra một thị trường khác. Việt Nam có khoảng 14,2 triệu người từ 60 tuổi trở lên vào năm 2024 và con số này được dự báo tăng lên khoảng 18 triệu người vào năm 2030. Nhu cầu chăm sóc sức khỏe, nhà ở phù hợp, thiết bị hỗ trợ, du lịch dưỡng sinh, dịch vụ tài chính và chăm sóc dài hạn sẽ ngày càng lớn.

Trong khi đó, kinh tế đêm mở rộng thời gian khai thác các hoạt động dịch vụ. Du lịch, ẩm thực, mua sắm, giải trí và các hoạt động văn hóa về đêm không chỉ tạo thêm doanh thu mà còn kéo dài thời gian lưu trú và mức chi tiêu của du khách.

Nếu được đặt trong cùng một hệ sinh thái, các mô hình này có thể hỗ trợ lẫn nhau: Công nghệ tạo công cụ, kinh tế xanh định hướng đầu tư, kinh tế tuần hoàn thay đổi cách sử dụng tài nguyên, kinh tế bạc tạo thị trường mới và kinh tế đêm mở rộng thời gian tiêu dùng.

Từ những mô hình riêng lẻ đến hệ sinh thái liên kết

Thách thức lớn nhất hiện nay không phải Việt Nam thiếu các mô hình kinh tế mới, mà là mức độ kết nối giữa chúng còn hạn chế.

Chuyển đổi số đã diễn ra mạnh trong doanh nghiệp và cơ quan quản lý, nhưng việc sử dụng dữ liệu để tối ưu năng lượng, quản lý chất thải hay phát triển dịch vụ chăm sóc người cao tuổi chưa tương xứng. Kinh tế tuần hoàn cũng gặp trở ngại bởi chi phí đầu tư ban đầu, công nghệ và thị trường đầu ra cho vật liệu tái chế chưa đồng bộ.

Với kinh tế bạc, thị trường còn thiếu các dịch vụ chuyên biệt và mô hình chăm sóc đa dạng. Trong khi đó, kinh tế đêm đối mặt với những vấn đề về quy hoạch không gian, giao thông, tiếng ồn, an ninh, vệ sinh và quản lý đô thị.

Điều này cho thấy cần thay đổi cách tiếp cận chính sách. Thay vì xây dựng từng chương trình riêng cho kinh tế số, kinh tế xanh hay kinh tế đêm, Việt Nam có thể hình thành khung chiến lược chung, trong đó xác định những điểm giao nhau để tạo hiệu ứng cộng hưởng.

Một trong những ưu tiên là xây dựng hạ tầng dữ liệu dùng chung, chuẩn hóa dữ liệu và thúc đẩy ứng dụng AI, IoT trong sản xuất, đô thị và dịch vụ. Cùng với đó là mở rộng tín dụng xanh, tài chính cho dự án tuần hoàn, năng lượng sạch, logistics xanh và các mô hình sản xuất có khả năng truy xuất nguồn gốc.

Các đô thị lớn và trung tâm du lịch có thể trở thành nơi thử nghiệm mô hình tích hợp. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Nha Trang hay Phú Quốc có điều kiện để kết hợp du lịch đêm, dịch vụ số, kinh tế xanh, tuần hoàn và các sản phẩm dành cho nhóm dân số cao tuổi.

Quan trọng hơn, hiệu quả của các mô hình này cần được đo bằng những chỉ tiêu cụ thể như năng suất lao động, mức tiêu hao năng lượng, tỷ lệ tái chế, doanh thu dịch vụ ban đêm, mức chi tiêu của du khách, chất lượng môi trường và khả năng tiếp cận dịch vụ của người cao tuổi.

Trong giai đoạn tăng trưởng mới, Việt Nam cần một cấu trúc kinh tế có khả năng tạo ra nhiều động lực đồng thời. Khi công nghệ, xanh hóa, tuần hoàn, nhân khẩu học và kinh tế dịch vụ được kết nối bằng thể chế, hạ tầng và dữ liệu, những mô hình kinh tế mới sẽ không còn là các “mảnh ghép” riêng lẻ mà có thể trở thành một hệ sinh thái tăng trưởng mới.

Minh Thành (t/h)