Khi an toàn thực phẩm trở thành nền tảng của thương hiệu nông sản
Hiện nay, Chính phủ đang từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý nhằm hướng nền nông nghiệp tới mô hình sản xuất xanh, minh bạch và bền vững hơn. Luật An toàn thực phẩm năm 2010 cùng các chính sách phát triển nông nghiệp hữu cơ, kinh tế tuần hoàn, kiểm soát truy xuất nguồn gốc và siết chặt hậu kiểm đang tạo áp lực buộc thị trường phải thay đổi theo hướng đề cao chất lượng thay vì chạy theo sản lượng đơn thuần.
Theo các chuyên gia, để mục tiêu này trở thành hiện thực, cần có sự đồng hành chặt chẽ giữa Nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và người nông dân. Trong đó, doanh nghiệp và hợp tác xã giữ vai trò tổ chức sản xuất; giới khoa học cung cấp giải pháp công nghệ; còn cơ quan quản lý tạo cơ chế kiểm soát, hỗ trợ chuyển giao kỹ thuật và kết nối sản xuất với thị trường. Khi các mắt xích này vận hành đồng bộ, nông nghiệp sạch mới có thể phát triển theo hướng bền vững thay vì dừng ở các mô hình riêng lẻ.

Thực tế cho thấy, nhiều mô hình sản xuất hiện nay đã bắt đầu chuyển mạnh từ tư duy “làm nhiều” sang “làm sạch”, lấy an toàn thực phẩm làm nền tảng để xây dựng thương hiệu lâu dài. Một trong những mô hình tiêu biểu là Hợp tác xã Dịch vụ tổng hợp Đông Cao, vùng rau an toàn lớn của Hà Nội. Nhiều năm qua, HTX Đông Cao duy trì sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, kiểm soát chặt chẽ từ nguồn nước tưới, quy trình canh tác đến việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và truy xuất nguồn gốc trước khi đưa sản phẩm ra thị trường.
Không chỉ tập trung sản xuất, đơn vị còn chủ động liên kết với doanh nghiệp phân phối, siêu thị và phối hợp với ngành nông nghiệp địa phương trong các chương trình chuyển giao kỹ thuật, thử nghiệm mô hình canh tác xanh. Ông Đàm Văn Đua, Giám đốc HTX Đông Cao cho rằng: “Làm nông nghiệp sạch vất vả hơn nhiều so với cách làm truyền thống vì quy trình nghiêm ngặt, chi phí cao và thời gian dài hơn. Nhưng đổi lại là niềm tin của người tiêu dùng. Đó mới là giá trị bền vững nhất”.
Theo ông Đua, trong bối cảnh thị trường xuất hiện nhiều sản phẩm tự gắn mác “rau sạch”, “hữu cơ” nhưng chất lượng không bảo đảm, việc giữ uy tín thương hiệu trở thành yếu tố sống còn. “Nếu chỉ chạy theo lợi nhuận trước mắt mà bỏ qua chất lượng thì thương hiệu rất khó tồn tại lâu dài”, ông nhấn mạnh.
Có thể thấy, khi người tiêu dùng ngày càng quan tâm tới truy xuất nguồn gốc và chất lượng thực tế, thương hiệu nông sản không còn được quyết định bởi quảng cáo hay bao bì bắt mắt, mà bằng chính mức độ an toàn và minh bạch trong toàn bộ quá trình sản xuất.
Từ giải pháp khoa học đến sự liên kết trong sản xuất xanh
Tuy nhiên, để nông nghiệp sạch không dừng ở các mô hình nhỏ lẻ, vai trò của khoa học công nghệ và sự liên kết giữa các chủ thể trong chuỗi sản xuất trở nên đặc biệt quan trọng. Bởi nếu chỉ dựa vào kinh nghiệm canh tác truyền thống, rất khó tạo ra vùng nguyên liệu ổn định đủ sức cạnh tranh trong bối cảnh thị trường ngày càng khắt khe.

Những năm gần đây, xu hướng sử dụng chế phẩm sinh học, tận dụng phụ phẩm nông nghiệp và giảm phụ thuộc vào hóa chất đang được nhiều địa phương quan tâm như một hướng đi bền vững cho nông nghiệp xanh. Trong dòng chảy đó, câu chuyện của anh Nguyễn Công Thắng được xem là ví dụ tiêu biểu cho tư duy đổi mới sáng tạo gắn với kinh tế tuần hoàn.
Xuất phát từ trăn trở trước tình trạng phụ phẩm cá bị thải bỏ gây ô nhiễm môi trường, anh Thắng đã dành nhiều năm nghiên cứu để tạo ra chế phẩm đạm cá hữu cơ phục vụ sản xuất nông nghiệp. Từ nguồn phụ phẩm tưởng chừng bỏ đi, anh tạo ra nguồn dinh dưỡng hữu cơ cho cây trồng, góp phần cải tạo đất và giảm sử dụng phân bón hóa học.
Anh Nguyễn Công Thắng chia sẻ: “Muốn làm nông nghiệp sạch thì trước hết phải làm cho đất khỏe. Nếu đất ngày càng phụ thuộc vào hóa chất thì cây trồng khó bền vững và người tiêu dùng cũng khó có được sản phẩm thực sự an toàn”.
Điểm đáng chú ý là những giải pháp của anh Thắng không dừng ở nghiên cứu lý thuyết mà được đưa trực tiếp vào thực tiễn sản xuất thông qua sự phối hợp với Trung tâm Dịch vụ tổng hợp xã Mê Linh và các hợp tác xã, hộ dân trên địa bàn. Nhiều chương trình trải nghiệm, hướng dẫn sử dụng chế phẩm hữu cơ đã được tổ chức ngay tại vùng sản xuất, trong đó có sự tham gia của nông dân và các HTX rau an toàn. 
Ông Đỗ Hoàng Việt, Giám đốc Trung tâm Dịch vụ tổng hợp xã Mê Linh nhận định: “Xu hướng nông nghiệp xanh, nông nghiệp hữu cơ là hướng đi tất yếu. Những giải pháp sinh học không chỉ giúp giảm áp lực cho môi trường mà còn tạo nền tảng để nâng cao chất lượng nông sản và xây dựng vùng sản xuất an toàn”.
Theo ông Việt, điều quan trọng không chỉ nằm ở công nghệ mà ở khả năng kết nối giữa nhà khoa học, cơ quan chuyên môn và người sản xuất để các giải pháp thực sự đi vào thực tế. Thông qua các mô hình trải nghiệm và chuyển giao kỹ thuật, nhiều hộ dân đã bước đầu thay đổi tư duy sản xuất, giảm dần phụ thuộc vào hóa chất và quan tâm nhiều hơn tới chất lượng đất, môi trường canh tác cũng như độ an toàn của nông sản.
Sự phối hợp giữa Trung tâm Dịch vụ tổng hợp xã Mê Linh, các mô hình sản xuất như HTX Đông Cao và những nghiên cứu của anh Nguyễn Công Thắng cho thấy một hướng đi rõ nét: Nông nghiệp sạch không thể phát triển nếu các chủ thể hoạt động tách rời, mà cần hình thành chuỗi liên kết từ nghiên cứu, chuyển giao kỹ thuật đến tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Xây dựng thương hiệu bền vững bằng chất lượng và trách nhiệm
Sau hàng loạt vụ việc liên quan tới thực phẩm bẩn và hàng giả, người tiêu dùng hiện nay ngày càng khắt khe hơn trong lựa chọn thực phẩm. Đây vừa là áp lực, vừa là cơ hội để các doanh nghiệp làm ăn chân chính khẳng định vị thế bằng chất lượng sản phẩm và sự minh bạch trong sản xuất.
Theo các chuyên gia, thương hiệu nông sản bền vững không thể xây dựng bằng quảng cáo hay những cam kết mang tính hình thức, mà phải bắt đầu từ chất lượng thực tế và trách nhiệm với cộng đồng. Khi doanh nghiệp làm thật, sản phẩm sạch thật và quy trình minh bạch thật, thị trường sẽ tự tạo ra niềm tin.
Đại diện một doanh nghiệp chế biến nông sản tại Hà Nội cho biết: “Hiện nay người tiêu dùng rất quan tâm tới truy xuất nguồn gốc. Nếu doanh nghiệp không kiểm soát chặt nguyên liệu, quy trình sản xuất và tiêu chuẩn an toàn thì rất khó xây dựng thương hiệu bền vững. Niềm tin của khách hàng mất đi thì rất khó lấy lại”.

Trong bối cảnh lực lượng Quản lý thị trường, Công an và các cơ quan chức năng liên tục siết chặt thanh tra, hậu kiểm và xử lý nghiêm các vi phạm về an toàn thực phẩm, đây cũng là cơ hội để những doanh nghiệp sản xuất tử tế từng bước khẳng định chỗ đứng trên thị trường.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia, để nông nghiệp sạch phát triển bền vững không thể chỉ dựa vào nỗ lực riêng lẻ của một vài doanh nghiệp hay mô hình tiên phong. Điều cần thiết hơn là hình thành một hệ sinh thái đồng bộ, trong đó Nhà nước giữ vai trò kiến tạo chính sách và kiểm soát thị trường; doanh nghiệp, hợp tác xã tổ chức sản xuất an toàn; giới khoa học tiếp tục chuyển giao công nghệ xanh; còn người tiêu dùng thay đổi thói quen lựa chọn thực phẩm có nguồn gốc rõ ràng.
Từ thực tiễn của HTX Đông Cao với hành trình kiên trì giữ chuẩn rau an toàn, đến những nghiên cứu của anh Nguyễn Công Thắng và sự đồng hành của Trung tâm Dịch vụ tổng hợp xã Mê Linh trong chuyển giao kỹ thuật, có thể thấy một thông điệp rõ ràng: Nông nghiệp sạch không chỉ là câu chuyện sản xuất, mà còn là quá trình liên kết giữa quản lý, khoa học và thị trường để xây dựng niềm tin bằng chất lượng thực tế và trách nhiệm lâu dài.
Khi các chủ thể cùng vận hành trong một chuỗi giá trị minh bạch và bền vững, nông sản Việt mới có thể từng bước nâng cao giá trị, chinh phục người tiêu dùng và tạo dựng vị thế vững chắc trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng khốc liệt.
Hậu Thạch
























