Kinh tế tuần hoàn đang mở ra hướng đi mới cho nông nghiệp Cà Mau. Thay vì khai thác tài nguyên theo quy trình sản xuất một chiều, địa phương hướng tới tái sử dụng nguyên liệu, phụ phẩm và chất thải, qua đó giảm chi phí đầu vào, hạn chế phát thải và nâng cao giá trị sản phẩm.
Dù chưa có chính sách riêng dành cho lĩnh vực này, nhiều nội dung về sản xuất tuần hoàn đã được Cà Mau lồng ghép vào các chương trình, dự án nông nghiệp. Phương thức canh tác, nuôi trồng từng bước chuyển sang hướng tiết kiệm tài nguyên, thân thiện với môi trường và đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường.

Cà Mau hiện có hơn 80% diện tích nuôi tôm được tổ chức theo hình thức quảng canh cải tiến và sinh thái. Trong đó, khoảng 90.000 ha áp dụng mô hình tôm - lúa và 90.000 ha phát triển tôm - rừng. Nhiều vùng nuôi đã được cấp chứng nhận quốc tế, tạo lợi thế cho thủy sản địa phương tiếp cận những thị trường có yêu cầu cao về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và trách nhiệm môi trường.
Các mô hình tôm - lúa, tôm - rừng cho thấy sản xuất nông nghiệp có thể gắn với bảo vệ hệ sinh thái thay vì đánh đổi tài nguyên để tăng sản lượng. Đây cũng là cơ sở để Cà Mau phát triển những chuỗi sản phẩm có giá trị gia tăng cao, dựa trên yếu tố sinh thái, hữu cơ và phát thải thấp.
Tuy nhiên, kinh tế tuần hoàn không chỉ dừng lại ở việc thay đổi phương thức nuôi trồng. Khối lượng phụ phẩm phát sinh từ chế biến tôm, thủy sản và các ngành hàng nông nghiệp cần được thu gom, phân loại và tái sử dụng hiệu quả. Nếu có công nghệ và quy trình phù hợp, nguồn nguyên liệu này có thể tiếp tục tham gia chuỗi sản xuất, góp phần giảm lượng chất thải ra môi trường và tạo thêm giá trị kinh tế.
Để chuyển từ những mô hình riêng lẻ sang nền sản xuất có tính hệ thống, Cà Mau cần xây dựng cơ chế hỗ trợ phù hợp với từng ngành hàng chủ lực. Trước hết, địa phương cần rà soát nguồn phụ phẩm, chất thải phát sinh tại các vùng sản xuất, cơ sở nuôi trồng và nhà máy chế biến; từ đó xác định khả năng thu hồi, tái sử dụng và chế biến thành sản phẩm mới.
Cùng với đó là yêu cầu hoàn thiện quy trình kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng và cơ chế truy xuất nguồn gốc đối với sản phẩm được tạo ra từ phụ phẩm. Việc ứng dụng khoa học, công nghệ phải gắn với nhu cầu thực tế, có khả năng triển khai ở quy mô doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất.
Liên kết giữa người dân, doanh nghiệp và đơn vị nghiên cứu cũng cần được củng cố. Người sản xuất cung cấp nguyên liệu và phụ phẩm; doanh nghiệp đảm nhận khâu thu gom, chế biến, tiêu thụ; còn cơ quan chuyên môn hỗ trợ quy trình, công nghệ và kiểm soát chất lượng. Khi các mắt xích được kết nối, chất thải của công đoạn này có thể trở thành đầu vào của công đoạn khác, từng bước hình thành chuỗi sản xuất khép kín.
Theo định hướng đến năm 2030, Cà Mau đặt mục tiêu trở thành cực tăng trưởng xanh của vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Nông nghiệp sinh thái, kinh tế tuần hoàn và kinh tế biển xanh được xác định là những trụ cột quan trọng để địa phương nâng cao sức cạnh tranh, bảo vệ tài nguyên và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Hiệu quả của kinh tế tuần hoàn sẽ không chỉ được đo bằng số lượng mô hình triển khai, mà còn ở khả năng giảm chi phí, tiết kiệm tài nguyên, hạn chế phát thải và tạo thêm giá trị cho sản phẩm. Khi phụ phẩm được nhìn nhận như một nguồn tài nguyên, nông nghiệp Cà Mau sẽ có thêm dư địa để tăng trưởng theo hướng xanh, bền vững và có chiều sâu.
L.T























