Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) vừa thông báo phê duyệt thêm 140 mã số vùng trồng và 31 cơ sở đóng gói sầu riêng của tỉnh Đắk Lắk. Đây là bước tiến đáng chú ý đối với một trong những vùng sản xuất sầu riêng lớn nhất cả nước, trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng siết chặt các yêu cầu đối với nông sản nhập khẩu.
Theo thông tin từ UBND tỉnh Đắk Lắk, đợt phê duyệt mới giúp bổ sung hơn 4.321 ha vùng trồng đáp ứng điều kiện xuất khẩu, đồng thời nâng tổng diện tích nhà xưởng sơ chế, đóng gói lên hơn 91.000 m². Công suất xử lý của các cơ sở được nâng lên khoảng 5.470 tấn/ngày.
Việc gia tăng đồng thời cả vùng trồng và cơ sở đóng gói giúp Đắk Lắk có thêm năng lực tổ chức chuỗi xuất khẩu, đặc biệt trong giai đoạn cao điểm thu hoạch.

Từ mở rộng mã số đến bài toán kiểm soát chất lượng
Với đặc thù sầu riêng có sản lượng thu hoạch lớn trong thời gian tương đối tập trung, năng lực sơ chế và đóng gói có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng tiêu thụ. Khi công suất xử lý được mở rộng, doanh nghiệp có thêm điều kiện tiếp nhận sản phẩm từ các vùng trồng đạt chuẩn, hạn chế tình trạng hàng phải chờ đợi kéo dài sau thu hoạch.
Đây cũng là yếu tố có thể góp phần giảm áp lực tiêu thụ trong chính vụ, qua đó hạn chế nguy cơ nông dân phải bán tháo khi nguồn cung tăng mạnh trong thời gian ngắn.
Tuy nhiên, việc được cấp mã số mới mới chỉ là bước đầu. Khi thị trường nhập khẩu yêu cầu ngày càng cao về truy xuất nguồn gốc, kiểm dịch thực vật và an toàn thực phẩm, trách nhiệm duy trì tiêu chuẩn của từng vùng trồng và cơ sở đóng gói sẽ lớn hơn.
Các hộ dân, hợp tác xã và doanh nghiệp cần tổ chức sản xuất theo đúng quy trình đã đăng ký, kiểm soát vật tư đầu vào và bảo đảm hồ sơ truy xuất đầy đủ. Đặc biệt, việc sử dụng mã số vùng trồng phải đúng đối tượng và đúng khu vực được cấp phép.
UBND tỉnh Đắk Lắk đã yêu cầu ngành nông nghiệp và chính quyền địa phương tăng cường hậu kiểm, giám sát quá trình sản xuất và đóng gói. Những trường hợp gian lận mã số hoặc vi phạm quy định về an toàn thực phẩm, kiểm dịch thực vật sẽ phải được xử lý nhằm tránh ảnh hưởng đến toàn bộ ngành hàng.
Dư địa xuất khẩu còn lớn, nhưng không thể chạy theo sản lượng
Đắk Lắk hiện có khoảng 41.000 ha sầu riêng, sản lượng niên vụ 2026 dự kiến gần 500.000 tấn. Riêng năm 2025, kim ngạch xuất khẩu sầu riêng của tỉnh ước đạt khoảng 1,1 tỷ USD.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường Đắk Lắk, địa phương hiện có 280 vùng trồng với khoảng 7.500 ha và 41 cơ sở đóng gói quả tươi được phê duyệt mã số xuất khẩu.
Những con số trên cho thấy quy mô sản xuất của tỉnh lớn hơn đáng kể so với diện tích đã được cấp mã phục vụ xuất khẩu. Sau đợt phê duyệt mới, phần diện tích được cấp mã vẫn chỉ chiếm khoảng 17-28% diện tích sầu riêng cho thu hoạch của toàn tỉnh.
Điều này đồng nghĩa dư địa mở rộng vùng trồng đạt chuẩn xuất khẩu vẫn còn rất lớn. Song đây cũng là bài toán cần được tính toán thận trọng, bởi việc mở rộng diện tích nếu không đi kèm kiểm soát chất lượng có thể tạo áp lực lên giá và làm gia tăng rủi ro đối với thị trường xuất khẩu.
Thay vì chỉ tập trung tăng diện tích, Đắk Lắk cần hướng tới nâng chất lượng vùng trồng hiện có, xây dựng liên kết ổn định giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp xuất khẩu, đồng thời nâng khả năng kiểm soát từ vườn đến cơ sở đóng gói.
Đối với thị trường Trung Quốc, việc duy trì được các mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói có thể quan trọng không kém việc được cấp thêm mã số mới. Chỉ một số trường hợp vi phạm về dư lượng, kiểm dịch hoặc truy xuất nguồn gốc cũng có thể ảnh hưởng đến uy tín của cả chuỗi cung ứng.
Do đó, đợt phê duyệt thêm 140 mã vùng trồng và 31 cơ sở đóng gói không chỉ mở rộng “cánh cửa” xuất khẩu cho sầu riêng Đắk Lắk mà còn đánh dấu bước chuyển từ mở rộng quy mô sang nâng cao chất lượng chuỗi ngành hàng.
Nếu tận dụng tốt dư địa này, Đắk Lắk có thể gia tăng tỷ lệ sầu riêng xuất khẩu chính ngạch, giảm phụ thuộc vào tiêu thụ tự phát và nâng giá trị cho người trồng. Ngược lại, việc chạy theo sản lượng mà xem nhẹ tiêu chuẩn có thể khiến lợi thế thị trường nhanh chóng bị thu hẹp.
Vì vậy, bài toán của sầu riêng Đắk Lắk trong giai đoạn tới không chỉ là có thêm bao nhiêu mã số, mà là làm thế nào để từng mã số trở thành một “tấm vé” xuất khẩu bền vững, được duy trì bằng chất lượng và sự tuân thủ lâu dài.
Minh Thành (t/h)























