Trong đó, vốn đăng ký cấp mới đạt 21,72 tỷ USD với 2.771 dự án được cấp phép. Số lượng dự án tăng 9,4%, trong khi vốn đăng ký tăng 96,8% so với cùng kỳ. Mức tăng của vốn đăng ký cao hơn đáng kể so với số dự án cấp mới.
Về lĩnh vực, FDI trong công nghiệp chế biến, chế tạo được cấp phép mới lớn nhất với số vốn đăng ký đạt 12,15 tỷ USD, chiếm 55,9% tổng vốn đăng ký cấp mới. Sản xuất, phân phối điện, khí, nước, điều hòa đạt 3,13 tỷ USD, chiếm 14,4%. Các ngành còn lại đạt 6,44 tỷ USD, chiếm 29,7%.
Từ đầu năm đến nay, có 73 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong 8 tháng năm 2026. Trong đó, Singapore là nhà đầu tư lớn nhất với 7,62 tỷ USD, chiếm 35,1% tổng vốn đăng ký cấp mới. Thứ hai là Hàn Quốc với 5,67 tỷ USD, chiếm 26,1%. Đặc khu hành chính Hồng Công (Trung Quốc) đạt 2,96 tỷ USD, chiếm 13,6%. Tiếp đến là Trung Quốc đạt 1,93 tỷ USD, chiếm 8,9%; Nhật Bản đạt 1,42 tỷ USD, chiếm 6,5%;...

Cùng với sự gia tăng của dòng vốn mới, vốn đầu tư mở rộng cũng có sự tăng trưởng. Trong 8 tháng đầu năm 2026, có 819 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước quyết định tăng vốn đầu tư thêm tổng cộng 12,21 tỷ USD, tăng 14,7% so với cùng kỳ.
Tính gộp cả vốn mới và vốn tăng thêm, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút tới 20,18 tỷ USD, chiếm tới 59,5%; trong khi mảng kinh doanh bất động sản với 5,32 tỷ USD, chiếm 15,7%.
Ở hình thức góp vốn, mua cổ phần, có 2.062 lượt giao dịch với tổng giá trị 6,7 tỷ USD, tăng 50,1%. Trong đó, các nhà đầu tư ngoại đang mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ tới 4,15 tỷ USD, so với 2,55 tỷ USD rót vào để tăng vốn điều lệ.
Ngoài ra, có 819 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư tăng thêm 12,21 tỷ USD, tăng 14,7% so với cùng kỳ năm trước. Nếu tính cả vốn đăng ký mới và vốn đăng ký điều chỉnh của các dự án đã cấp phép từ các năm trước, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 20,18 tỷ USD, chiếm 59,5% tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm.
Trong khi đó, sản xuất kinh doanh bất động sản đạt 5,32 tỷ USD, chiếm 15,7%. Các ngành còn lại đạt 8,42 tỷ USD, chiếm 24,8%. Đối với hình thức góp vốn, mua cổ phần, có 2.062 lượt góp vốn với tổng giá trị 6,7 tỷ USD, tăng 50,1% so với cùng kỳ năm trước.
Dòng vốn hai chiều và bước tiến của doanh nghiệp Việt
Điểm sáng đáng chú ý là vốn FDI thực hiện tiếp tục tăng trong 8 tháng qua; ước đạt 17,25 tỷ USD, tăng 12% so với cùng kỳ năm trước và cũng là số vốn FDI thực hiện cao nhất của 8 tháng trong 5 năm qua (2022: 12,94%; 2023: 13,1%; 2024: 14,15%; 2025: 15,4%).
Ở chiều ngược lại, tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài, gồm cấp mới và điều chỉnh, trong 8 tháng đạt 2,62 tỷ USD, cao gấp 4,7 lần so với cùng kỳ năm ngoái. Mức tăng đến từ 113 dự án được cấp mới với số vốn 1,21 tỷ USD, gấp 2,8 lần cùng kỳ, và 29 dự án điều chỉnh tăng vốn với 1,41 tỷ USD, gấp 10,9 lần.

Vốn đầu tư ra nước ngoài tập trung vào vận tải kho bãi với 601,7 triệu USD, chiếm 23%. Lĩnh vực năng lượng cũng bứt phá với 585,8 triệu USD.
Về thị trường nhận vốn, Lào dẫn đầu với 667,5 triệu USD, tiếp đến là Campuchia với 486,5 triệu USD. Việt Nam cũng mở rộng địa bàn đầu tư sang Ấn Độ với 323,9 triệu USD và Indonesia với 313,6 triệu USD.
“Đáng chú ý, sự gia tăng của dòng vốn đầu tư không chỉ thể hiện ở chiều vào mà còn cho thấy năng lực vươn ra bên ngoài của khu vực doanh nghiệp Việt Nam. Ngày càng nhiều doanh nghiệp chủ động tìm kiếm thị trường, xây dựng cơ sở sản xuất, mở rộng hệ thống kinh doanh và đầu tư vào các lĩnh vực có lợi thế tại nước ngoài. Xu hướng này cho thấy doanh nghiệp Việt đang từng bước chuyển từ tư duy ‘đưa hàng ra thế giới’ sang chủ động hiện diện và tham gia sâu hơn vào các thị trường quốc tế, qua đó mở rộng không gian tăng trưởng và nâng tầm vị thế thương hiệu Việt.”
Hà Trần























