Quy mô thương mại tăng mạnh, FDI tiếp tục chi phối
Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), riêng tháng 8, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 109,7 tỷ USD, tăng 31,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 8 tháng, xuất khẩu đạt 374,84 tỷ USD, tăng 22,4%, trong khi nhập khẩu đạt 395,3 tỷ USD, tăng tới 35,3%.
Khoảng cách về tốc độ tăng giữa hai chiều thương mại là yếu tố đáng chú ý. Cùng kỳ năm 2025, Việt Nam xuất siêu 14,02 tỷ USD, nhưng 8 tháng năm nay cán cân thương mại chuyển sang nhập siêu 20,46 tỷ USD.
Ở chiều xuất khẩu, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục giữ vai trò áp đảo. Khu vực này đạt 300,37 tỷ USD, tăng 26,9%, chiếm 80,1% tổng kim ngạch xuất khẩu. Trong khi đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 74,47 tỷ USD, tăng 7,4%.
Cơ cấu trên cho thấy tăng trưởng xuất khẩu hiện vẫn phụ thuộc lớn vào khu vực FDI. Tốc độ tăng xuất khẩu của khu vực này cao hơn đáng kể so với doanh nghiệp trong nước, qua đó đóng góp phần lớn vào mức tăng chung của xuất khẩu.

Các mặt hàng công nghiệp và công nghệ tiếp tục là động lực chính. Điện tử, máy tính và linh kiện đạt 101,06 tỷ USD, tăng tới 51,1%; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đạt 47,29 tỷ USD, tăng 26,4%; điện thoại và linh kiện đạt 45,59 tỷ USD, tăng 19,4%.
Đáng chú ý, hàng công nghiệp chế biến đạt 337,99 tỷ USD, chiếm 90,2% tổng kim ngạch xuất khẩu. Trong khi đó, nông sản, lâm sản chiếm 7,1%, thủy sản 2,1% và nhiên liệu, khoáng sản chỉ chiếm 0,6%.
Cơ cấu này cho thấy nền xuất khẩu tiếp tục dịch chuyển sâu vào nhóm hàng chế biến, chế tạo và công nghệ. Tuy nhiên, sự phụ thuộc lớn vào khu vực FDI cũng đặt ra yêu cầu tăng khả năng tham gia của doanh nghiệp trong nước vào chuỗi cung ứng để nâng cao giá trị gia tăng nội địa.
Nhập khẩu tăng nhanh, nhưng chủ yếu là đầu vào sản xuất
Điểm đáng chú ý nhất trong bức tranh thương mại 8 tháng nằm ở phía nhập khẩu. Kim ngạch nhập khẩu đạt 395,3 tỷ USD, tăng 35,3%, cao hơn 12,9 điểm phần trăm so với tốc độ tăng xuất khẩu.
Tuy nhiên, cơ cấu hàng nhập khẩu cho thấy phần lớn dòng tiền đang được sử dụng cho máy móc, thiết bị và nguyên vật liệu phục vụ sản xuất. Nhóm tư liệu sản xuất đạt 372,04 tỷ USD, chiếm tới 94,1% tổng kim ngạch nhập khẩu. Trong đó, máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng chiếm 57,6%; nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 36,5%. Hàng tiêu dùng chỉ chiếm 5,9%.
Riêng điện tử, máy tính và linh kiện đạt 161,63 tỷ USD, tăng 68,3% so với cùng kỳ. Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt 47,4 tỷ USD, tăng 22,1%.
Như vậy, mức tăng mạnh của nhập khẩu không hoàn toàn phản ánh sự gia tăng của hàng tiêu dùng, mà chủ yếu gắn với nhu cầu đầu vào của hoạt động sản xuất. Đây là yếu tố cần được đặt trong mối liên hệ với đà tăng của sản xuất công nghiệp và xuất khẩu.
Dù vậy, cán cân thương mại vẫn chịu áp lực đáng kể từ sự mất cân đối giữa các thị trường. Trong 8 tháng, Việt Nam xuất siêu 106,6 tỷ USD sang Hoa Kỳ và 31,4 tỷ USD sang EU, nhưng nhập siêu từ Trung Quốc tới 107,7 tỷ USD, từ Hàn Quốc 37,8 tỷ USD và từ ASEAN 13,5 tỷ USD.
Đáng chú ý, khu vực FDI xuất siêu 10,14 tỷ USD, trong khi khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 30,6 tỷ USD. Điều này một lần nữa cho thấy vai trò lớn của doanh nghiệp FDI trong cán cân thương mại, đồng thời phản ánh mức độ phụ thuộc nhất định của khu vực doanh nghiệp trong nước vào nguồn nguyên liệu, máy móc và hàng hóa nhập khẩu.
Với tổng kim ngạch 770,14 tỷ USD chỉ sau 8 tháng, thương mại hàng hóa đang trở thành một trong những điểm sáng nổi bật của kinh tế Việt Nam năm 2026. Song, kỷ lục về quy mô đi cùng bài toán mới: làm thế nào để tốc độ tăng xuất khẩu theo kịp nhập khẩu, đồng thời nâng tỷ lệ giá trị nội địa trong mỗi sản phẩm xuất khẩu.
Nếu nhập khẩu tư liệu sản xuất tiếp tục tăng cùng năng lực sản xuất và xuất khẩu, nhập siêu có thể được nhìn nhận như một phần của quá trình mở rộng sản xuất. Nhưng về dài hạn, việc nâng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước, phát triển công nghiệp hỗ trợ và tăng khả năng cung ứng nguyên vật liệu trong nước vẫn là chìa khóa để chuyển quy mô thương mại lớn thành giá trị gia tăng lớn hơn cho nền kinh tế.
Nam Sơn (t/h)























