
Với hệ sinh thái đa dạng, điều kiện đất đai, khí hậu thuận lợi cùng nhiều ngành hàng chủ lực như rau, hoa, cà phê, sầu riêng, thanh long, Lâm Đồng có nhiều dư địa phát triển nền nông nghiệp hiện đại. Tuy nhiên, để chuyển lợi thế về quy mô thành sức cạnh tranh thực chất, tỉnh cần giải quyết bài toán liên kết sản xuất, chế biến sâu, bảo quản và tiêu thụ nông sản.
Công nghệ cao tạo giá trị gia tăng
Theo báo cáo của Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật thuộc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lâm Đồng, giai đoạn 2021-2025, giá trị gia tăng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng bình quân khoảng 5,45%/năm, vượt mục tiêu đề ra trước khi sáp nhập. Riêng năm 2025, tốc độ tăng trưởng toàn ngành nông nghiệp của tỉnh sau sáp nhập đạt 5,1%.
Tổng diện tích gieo trồng năm 2025 đạt hơn 1,049 triệu ha, giá trị sản xuất bình quân khoảng 195 triệu đồng/ha đất canh tác. Đến cuối năm, toàn tỉnh có hơn 107.300 ha sản xuất ứng dụng công nghệ cao và khoảng 97.200 ha áp dụng công nghệ tưới tiên tiến, tiết kiệm nước. Các giải pháp cảm biến, tự động hóa và quản lý sản xuất bằng công nghệ số cũng từng bước được mở rộng.

Đà tăng trưởng tiếp tục được duy trì trong năm 2026. Trong 9 tháng đầu năm, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản ước tăng 4,9%, cao hơn kịch bản đề ra 4,77%. Tổng diện tích gieo trồng lũy kế đạt khoảng 1,042 triệu ha, bằng 100,1% so với cùng kỳ năm trước.
Đáng chú ý, định hướng phát triển nông nghiệp của tỉnh đang chuyển từ tư duy sản xuất đơn thuần sang kinh tế nông nghiệp, lấy hiệu quả và giá trị gia tăng làm thước đo. Theo đó, việc cải tạo diện tích cây trồng già cỗi, kém hiệu quả được gắn với mở rộng các mô hình sản xuất sinh thái, tiết kiệm tài nguyên và đáp ứng yêu cầu thị trường.

Các công nghệ nhà kính, nhà lưới, tưới tiết kiệm, thủy canh, khí canh, công nghệ sinh học và bảo quản sau thu hoạch ngày càng được ứng dụng. Một số mô hình còn tích hợp cảm biến IoT, trí tuệ nhân tạo và hệ thống điều khiển từ xa để giám sát dịch bệnh, điều tiết nước tưới và quản lý môi trường canh tác.
Tại khu vực phụ cận Đà Lạt - Đức Trọng, mô hình làng nông nghiệp thông minh cho thấy hiệu quả của việc kết hợp công nghệ với tổ chức sản xuất. Hệ thống cảm biến, điều khiển vi khí hậu và tưới tiêu chính xác giúp tiết kiệm 30-35% lượng nước tưới và phân bón, giảm hơn 40% chi phí nhân công. Với các loại rau, hoa cao cấp, giá trị thu nhập đạt khoảng 1,2-2,5 tỷ đồng/ha/năm.
Trong lĩnh vực cà phê, các mô hình liên kết sản xuất, chế biến sâu theo hướng giảm phát thải góp phần nâng chất lượng sản phẩm, sử dụng hiệu quả nguồn nước và tận dụng phụ phẩm làm phân bón hữu cơ. Theo báo cáo, cách làm này giúp gia tăng 15-25% giá trị sản phẩm.
Cùng với công nghệ, việc chuẩn hóa sản phẩm và xây dựng thương hiệu được xác định là điều kiện quan trọng để mở rộng thị trường. Đến nay, Lâm Đồng đã cấp 1.611 mã số vùng trồng với tổng diện tích hơn 54.298 ha và 547 mã số cơ sở đóng gói nông sản. Toàn tỉnh xác lập quyền đối với 95 nhãn hiệu cộng đồng, gồm 4 chỉ dẫn địa lý, 37 nhãn hiệu chứng nhận và 54 nhãn hiệu tập thể.
Gỡ điểm nghẽn, hình thành chuỗi giá trị
Dù đạt nhiều kết quả tích cực, nông nghiệp Lâm Đồng vẫn đối mặt với những hạn chế về tổ chức sản xuất và năng lực cạnh tranh. Trình độ ứng dụng công nghệ giữa các vùng còn chênh lệch. Trong khi Đà Lạt và vùng phụ cận phát triển mạnh nông nghiệp công nghệ cao, một số địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa vẫn chủ yếu sản xuất theo kinh nghiệm truyền thống.
Sản xuất phân tán, manh mún khiến việc hình thành các vùng nguyên liệu quy mô lớn gặp khó khăn. Năng lực quản trị của một bộ phận hợp tác xã còn hạn chế; mối liên kết giữa nông dân, hợp tác xã với doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ chưa chặt chẽ. Trong khi đó, hạ tầng giao thông nội đồng, thủy lợi nhỏ, kho lạnh, bảo quản và logistics chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu phát triển chuỗi hàng hóa.
Áp lực còn đến từ biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan và những thay đổi trong tiêu chuẩn nhập khẩu. Các thị trường ngày càng yêu cầu cao về truy xuất nguồn gốc, chất lượng, an toàn thực phẩm và giảm phát thải. Nếu không chủ động thích ứng, lợi thế về sản lượng và điều kiện tự nhiên sẽ khó chuyển hóa thành giá trị kinh tế bền vững.

Trong giai đoạn 2026-2035, tầm nhìn đến năm 2050, Lâm Đồng định hướng rà soát, tích hợp quy hoạch, phát huy lợi thế từng vùng sinh thái và hình thành các vùng chuyên canh tập trung. Ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số cần được triển khai xuyên suốt từ sản xuất, thu hoạch, bảo quản đến chế biến và phân phối.
Tỉnh cũng đặt trọng tâm nâng cao năng lực hợp tác xã, thúc đẩy liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp; thu hút các doanh nghiệp đủ năng lực dẫn dắt chuỗi giá trị, đầu tư vào chế biến sâu và hạ tầng logistics. Nguồn lực cần được ưu tiên cho giao thông nội đồng, thủy lợi, hạ tầng số và nước sạch, nhất là tại những địa bàn còn khó khăn.
Về lâu dài, sức cạnh tranh của nông sản Lâm Đồng không chỉ nằm ở quy mô sản xuất hay sản lượng, mà còn ở khả năng đáp ứng tiêu chuẩn, nâng tỷ lệ chế biến, xây dựng thương hiệu và tổ chức thị trường. Khi các mắt xích từ vùng nguyên liệu đến doanh nghiệp chế biến, phân phối được kết nối chặt chẽ, lợi thế sau sáp nhập mới có thể phát huy đầy đủ.
Phát triển nông nghiệp xanh, hiện đại và bền vững vì vậy không chỉ là yêu cầu đổi mới phương thức canh tác, mà còn là quá trình tái tổ chức toàn bộ chuỗi giá trị. Đây sẽ là nền tảng để Lâm Đồng nâng cao giá trị nông sản, mở rộng thị trường tiêu thụ và từng bước khẳng định vị thế trên thị trường trong nước, quốc tế.
Hoàng Phương























