Hàng loạt cơ chế mới về quản lý, đầu tư và cơ cấu lại vốn nhà nước đang mở ra cách tiếp cận mới: vốn nhà nước phải được sử dụng năng động hơn, tập trung hơn và hướng vào những lĩnh vực có khả năng tạo giá trị lớn.

Không để nguồn lực lớn nằm ngoài cuộc đua tăng trưởng

Đến cuối năm 2025, cả nước còn 695 doanh nghiệp nhà nước, gồm 497 doanh nghiệp Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và 198 doanh nghiệp có vốn nhà nước chi phối. Khối doanh nghiệp này quản lý khoảng 4,5 triệu tỷ đồng tài sản, với vốn chủ sở hữu khoảng 2,02 triệu tỷ đồng.

Nguồn lực vốn nhà nước cần được tập trung vào những doanh nghiệp, ngành và lĩnh vực then chốt, có khả năng tạo sức lan tỏa. Ảnh AI
Nguồn lực vốn nhà nước cần được tập trung vào những doanh nghiệp, ngành và lĩnh vực then chốt, có khả năng tạo sức lan tỏa. Ảnh AI

Quy mô nguồn lực rất lớn, nhưng vốn và tài sản chỉ thực sự phát huy giá trị khi được chuyển hóa thành năng lực sản xuất, công nghệ, hạ tầng và những dự án có sức lan tỏa.

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 6/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước xác định doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò then chốt, dẫn dắt, định hướng và mở đường trong những ngành, lĩnh vực chiến lược, thiết yếu.

Đồng thời, doanh nghiệp phải hoạt động theo cơ chế thị trường, quản trị hiện đại, lấy hiệu quả kinh tế làm tiêu chí đánh giá chủ yếu và cạnh tranh bình đẳng với các thành phần kinh tế khác.

Mục tiêu đến năm 2030 có 50 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và từ 1-3 doanh nghiệp vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới cho thấy yêu cầu hình thành những doanh nghiệp đủ lớn, đủ mạnh và có năng lực cạnh tranh quốc tế.

Để hiện thực hóa mục tiêu đó, cơ chế quản lý vốn cũng phải thay đổi. Luật số 68/2025/QH15 về Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp, có hiệu lực từ ngày 1/8/2025, tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm. Cùng với đó, các Nghị định số 365/2025/NĐ-CP, 366/2025/NĐ-CP và 57/2026/NĐ-CP tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý, giám sát và cơ cấu lại vốn nhà nước.

Điểm cốt lõi là mở rộng quyền chủ động để doanh nghiệp có thể ra quyết định linh hoạt hơn, nhưng đồng thời phải chịu trách nhiệm rõ hơn về hiệu quả sử dụng vốn.

Chọn đúng nơi để vốn nhà nước tạo hiệu ứng lan tỏa

Nếu trước đây cơ cấu lại thường gắn với cổ phần hóa, thoái vốn và giảm số lượng doanh nghiệp, thì yêu cầu hiện nay đang chuyển sang câu hỏi: Nhà nước cần giữ vốn ở đâu để nguồn lực tạo ra hiệu quả lớn nhất?

Ngày 5/8/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 40/2026/QĐ-TTg về tiêu chí phân loại doanh nghiệp để thực hiện cơ cấu lại vốn nhà nước. Quyết định xác lập các nhóm tỷ lệ sở hữu vốn nhà nước theo ngành, lĩnh vực, tạo cơ sở để tập trung nguồn lực vào những doanh nghiệp và lĩnh vực Nhà nước cần duy trì vai trò chi phối, dẫn dắt.

Thực tế tại Tổng công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC) cho thấy năng lực tài chính có ý nghĩa trực tiếp đối với khả năng đầu tư. Việc tăng vốn điều lệ từ hơn 1.100 tỷ đồng lên trên 39.000 tỷ đồng trong năm 2025 giúp VEC củng cố năng lực tài chính, đồng thời có thêm điều kiện huy động nguồn vốn xã hội cho các dự án hạ tầng trọng điểm.

Ngày 7/8/2026, Công điện số 52/CĐ-TTg tiếp tục yêu cầu các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp nhà nước khẩn trương xây dựng kế hoạch cơ cấu lại vốn giai đoạn 2026-2030; đồng thời thúc đẩy hợp nhất, sáp nhập, chuyển giao doanh nghiệp và tái cơ cấu SCIC.

Như vậy, cơ cấu lại vốn nhà nước đang chuyển từ yêu cầu “sắp xếp” sang yêu cầu tối ưu hóa nguồn lực. Vốn cần được đưa đến đúng doanh nghiệp, đúng ngành và đúng dự án có khả năng tạo sức lan tỏa.

Khi quyền chủ động được mở rộng, nguồn lực được tập trung và trách nhiệm được gắn với hiệu quả, doanh nghiệp nhà nước có cơ hội chuyển từ vai trò quản lý nguồn lực sang tạo dựng năng lực mới cho nền kinh tế.

Thước đo cuối cùng của quá trình này không phải Nhà nước đang nắm giữ bao nhiêu vốn, mà là nguồn vốn đó tạo ra bao nhiêu giá trị, bao nhiêu dự án và bao nhiêu động lực tăng trưởng mới.

Minh Thành (t/h)