Mặt bằng giá trong 8 tháng đầu năm chịu tác động đan xen từ thị trường thế giới, chi phí đầu vào trong nước và lộ trình điều chỉnh một số dịch vụ do Nhà nước quản lý. CPI bình quân tăng 4,45%, tiến sát vùng dự báo lạm phát của cả năm 2026.
Kết quả này cho thấy áp lực giá chưa vượt khỏi tầm kiểm soát, nhưng khoảng đệm dành cho bốn tháng còn lại đã trở nên khá hẹp. Chỉ một đợt tăng mạnh của nhiên liệu, nguyên liệu nhập khẩu hoặc giá lương thực, thực phẩm cũng có thể nhanh chóng lan sang vận tải, logistics, bán lẻ và chi phí sinh hoạt.

Thời gian qua, các chính sách tài khóa và tiền tệ được vận hành theo hướng hỗ trợ nền kinh tế. Thuế, phí đối với xăng dầu được cắt giảm; lãi suất điều hành giữ ổn định; tỷ giá và thanh khoản của hệ thống tín dụng được điều tiết nhằm giảm sức ép lên doanh nghiệp.
Nhờ các giải pháp bình ổn, giá xăng dầu và cước vận tải container quốc tế đã hạ nhiệt sau giai đoạn tăng mạnh. Giá vật liệu xây dựng ổn định hơn, thậm chí giảm nhẹ trong tháng 7 và tháng 8. Giá dịch vụ y tế, giáo dục do Nhà nước định giá tiếp tục được kiểm soát theo lộ trình, qua đó hạn chế những cú tăng đột ngột đối với CPI.
Tuy nhiên, mức tăng bình quân 4,45% cho thấy áp lực lạm phát vẫn hiện diện trên diện rộng. Giá năng lượng giảm có thể tạo lực kéo xuống trong ngắn hạn, nhưng chưa đủ bù đắp hoàn toàn mức tăng của các nhóm hàng hóa và dịch vụ khác. Đây là lý do công tác điều hành cuối năm cần được thực hiện sát thị trường, thay vì chỉ dựa vào xu hướng chung của chỉ số giá.
Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước dự báo lạm phát bình quân năm 2026 có thể dao động từ 4,5% đến 5%. Nếu kịch bản này xảy ra, mục tiêu ổn định giá sẽ phụ thuộc lớn vào khả năng kiểm soát từng nhóm hàng có tỷ trọng cao trong chi tiêu của người dân.
Bốn tháng cuối năm thường là giai đoạn nhu cầu tiêu dùng, vận tải, lưu thông hàng hóa và dự trữ phục vụ Tết tăng nhanh. Sức mua phục hồi có thể hỗ trợ tăng trưởng, nhưng đồng thời tạo điều kiện để giá cả leo thang nếu nguồn cung không được chuẩn bị đầy đủ.
Rủi ro bên ngoài cũng chưa giảm. Biến động giá nhiên liệu, nguyên liệu nhập khẩu và tỷ giá có thể làm tăng chi phí sản xuất. Trong nước, thiên tai và biến đổi khí hậu tiếp tục đe dọa nguồn cung lương thực, thực phẩm tại một số khu vực. Khi chi phí đầu vào tăng cùng lúc với nhu cầu cuối năm, áp lực có thể truyền từ khâu sản xuất sang bán lẻ trong thời gian ngắn.
Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng yêu cầu các bộ, ngành và địa phương xây dựng kịch bản điều hành chi tiết đối với từng nhóm mặt hàng trọng điểm. Trọng tâm là theo dõi chặt cung – cầu, chủ động nguồn hàng và xử lý sớm những yếu tố có khả năng gây biến động mặt bằng giá.
Điều hành giá vì vậy cần được triển khai theo từng lớp. Với xăng dầu, điện, vật liệu xây dựng và vận tải, cơ quan quản lý phải đánh giá kỹ tác động lan tỏa đến chi phí sản xuất. Với lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng thiết yếu, yêu cầu quan trọng là bảo đảm nguồn cung, tăng kết nối phân phối và ngăn tình trạng găm hàng, đẩy giá.
Các mặt hàng, dịch vụ do Nhà nước quản lý cũng cần được điều chỉnh với thời điểm và mức độ phù hợp. Nếu nhiều nhóm giá cùng tăng trong một khoảng thời gian ngắn, tác động cộng hưởng có thể tạo thêm sức ép lên CPI và tâm lý thị trường.
Đối với địa phương, kiểm soát lạm phát không đồng nghĩa với giữ giá bằng biện pháp hành chính. Giải pháp căn cơ vẫn là bảo đảm lưu thông hàng hóa, giảm chi phí trung gian, công khai thông tin giá và tăng kiểm tra tại những thị trường có dấu hiệu bất thường. Việc chuẩn bị nguồn hàng sớm sẽ giúp hạn chế tăng giá cục bộ khi nhu cầu tiêu dùng lên cao.
Yêu cầu điều hành cũng cần tính đến sức chịu đựng của doanh nghiệp. Nếu giá bán bị giữ ở mức thấp trong khi chi phí đầu vào liên tục tăng, hoạt động sản xuất có thể bị thu hẹp, kéo theo nguy cơ thiếu hàng và tăng giá ở giai đoạn sau. Vì vậy, mục tiêu bình ổn phải đi cùng việc tháo gỡ chi phí, hỗ trợ lưu thông và duy trì năng lực cung ứng.
Từ nay đến cuối năm, khả năng giữ lạm phát trong vùng mục tiêu sẽ phụ thuộc vào tốc độ phản ứng trước từng biến động của thị trường. Kiểm soát tốt nguồn cung, phân bổ hợp lý thời điểm điều chỉnh giá và hạn chế tác động dây chuyền từ chi phí đầu vào sẽ là ba yếu tố quyết định.
L.T(t/h)























