Chuỗi nguyên liệu còn quá nhiều mắt xích
Theo Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA), sản lượng hồ tiêu trong nước hiện duy trì khoảng 175.000-180.000 tấn mỗi năm, trong khi lượng xuất khẩu đạt 230.000-250.000 tấn. Một phần nguyên liệu được nhập khẩu khoảng 20.000-25.000 tấn mỗi năm để phục vụ chế biến và tái xuất.
Trong 8 tháng, châu Á tiếp tục là thị trường lớn nhất với 88.441 tấn, chiếm 46,5% lượng xuất khẩu. Châu Mỹ đạt 49.830 tấn, châu Âu 40.892 tấn. Hoa Kỳ dẫn đầu với 44.349 tấn, tiếp theo là Trung Quốc với 20.495 tấn, tăng đáng kể so với 13.282 tấn cùng kỳ năm 2025.
Quy mô thị trường đang mở rộng nhưng chuỗi cung ứng phía sau lại chưa tương xứng. Trên 80% nông hộ và hợp tác xã có quy mô nhỏ lẻ khiến việc tổ chức vùng nguyên liệu, kiểm soát vật tư và đồng nhất quy trình sản xuất gặp khó khăn.

Đây là điểm yếu đặc biệt khi các thị trường lớn ngày càng quan tâm đến dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, truy xuất nguồn gốc và các tiêu chuẩn phát triển bền vững. Tình trạng trồng xen, nguy cơ nhiễm chéo cùng tác động của biến đổi khí hậu càng khiến việc kiểm soát chất lượng từ đầu chuỗi trở nên phức tạp.
Khâu thu mua cũng chưa tạo được một đường dẫn liền mạch từ nông hộ đến doanh nghiệp. Thương lái và đại lý trung gian vẫn giữ vai trò lớn, khiến nguyên liệu đi qua nhiều tầng nấc trước khi tới cơ sở chế biến. Khi thông tin về vùng trồng, quy trình canh tác và chất lượng không được ghi nhận đầy đủ, doanh nghiệp xuất khẩu khó chủ động truy xuất khi thị trường yêu cầu.
Vì vậy, thách thức của ngành hồ tiêu hiện nay không chỉ là sản xuất đạt chuẩn mà còn là làm sao để chuẩn đó được duy trì xuyên suốt cả chuỗi.
Giá trị gia tăng phải bắt đầu từ vùng nguyên liệu
Một hướng đi đang được đặt ra là thay đổi cách liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp. Thay vì mua bán theo giá thị trường từng thời điểm, các bên cần xây dựng quan hệ dài hạn, trong đó doanh nghiệp có cam kết về đầu ra và yêu cầu chất lượng, còn người sản xuất tuân thủ quy trình và cung cấp đầy đủ dữ liệu vùng nguyên liệu.
VPSA đề xuất rà soát, phát triển vùng nguyên liệu, chuẩn hóa dữ liệu cây trồng và thúc đẩy các mô hình liên kết. Cùng với đó là kiểm soát chặt vật tư đầu vào, giảm nguy cơ nhiễm chéo trong mô hình trồng xen, mở rộng tập huấn canh tác bền vững và ứng dụng thiết bị bay không người lái trong quản lý sản xuất.
Khi vùng nguyên liệu được kiểm soát tốt hơn, doanh nghiệp mới có nền tảng để đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của EU, Hoa Kỳ và Trung Quốc.
Tuy nhiên, nâng chất lượng nguyên liệu mới chỉ giải quyết một nửa bài toán. Phần giá trị còn nằm ở khâu chế biến. Nhiều doanh nghiệp đã đầu tư sản xuất tiêu trắng, tiêu bột, tiêu ngâm muối và các sản phẩm chế biến khác, nhưng xuất khẩu nguyên liệu vẫn chiếm tỷ trọng đáng kể.
Thay vì chỉ bán hạt tiêu, ngành có thể mở rộng sang gia vị phối trộn, chiết xuất và các sản phẩm tiện lợi; đồng thời phát triển năng lực OEM, ODM để tham gia sâu hơn vào chuỗi sản phẩm.
Song song với chế biến sâu, xây dựng thương hiệu cũng trở thành yêu cầu dài hạn. Chất lượng ổn định, truy xuất minh bạch và câu chuyện sản phẩm có thể tạo khác biệt khi hồ tiêu Việt Nam cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Với hơn 120 thị trường và lượng xuất khẩu tiếp tục tăng, ngành hồ tiêu đã có nền tảng thị trường đủ rộng. Vấn đề của giai đoạn tới là biến lợi thế về sản lượng và thị trường thành năng lực kiểm soát chuỗi, chế biến sâu và xây dựng thương hiệu. Khi đó, mỗi tấn hồ tiêu xuất khẩu không chỉ mang theo nguyên liệu, mà còn mang theo nhiều hơn giá trị được tạo ra tại Việt Nam.
Minh Thành (t/h)























