Sức cầu, sản xuất và thương mại cùng mở rộng

Một trong những tín hiệu tích cực là sức cầu trong nước tiếp tục cải thiện. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 8 tháng tăng 13,3% so với cùng kỳ, riêng tháng 8 tăng 14,9%. Trong đó, doanh thu lưu trú, ăn uống tăng 16,4% và du lịch lữ hành tăng 17,1%.

Đà tăng của dịch vụ gắn với sự phục hồi của dòng khách quốc tế. Việt Nam đón khoảng 15,9 triệu lượt khách quốc tế trong 8 tháng, tăng 14,4% so với cùng kỳ. Riêng tháng 8, lượng khách đạt gần 2 triệu lượt, tăng 18,4%.

Sức cầu trong nước vì vậy đang trở thành một điểm tựa quan trọng cho tăng trưởng, đặc biệt khi các ngành dịch vụ có mức tăng cao hơn bán lẻ hàng hóa. Sự phục hồi của du lịch, lưu trú, ăn uống cũng tạo hiệu ứng lan tỏa sang vận tải, thương mại và các hoạt động dịch vụ liên quan.

Ở phía sản xuất, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 8 tháng tăng 11,9%, trong đó chế biến, chế tạo tăng 12,5%. Riêng tháng 8, IIP tăng 14,4% so với cùng kỳ, cao hơn mức bình quân 8 tháng.

Sản xuất, tiêu dùng, thương mại và đầu tư cùng tăng trưởng đang tạo nền tảng cho kinh tế Việt Nam bước vào giai đoạn nước rút cuối năm 2026. Ảnh AI
Sản xuất, tiêu dùng, thương mại và đầu tư cùng tăng trưởng đang tạo nền tảng cho kinh tế Việt Nam bước vào giai đoạn nước rút cuối năm 2026. Ảnh AI

Diễn biến này cho thấy năng lực sản xuất đang được mở rộng trong thời điểm nhu cầu thị trường cả trong nước và quốc tế cải thiện. Khi sản lượng công nghiệp tăng cùng đơn hàng xuất khẩu, tác động không chỉ dừng ở giá trị sản xuất mà còn lan sang nhu cầu lao động, nguyên vật liệu, logistics và năng lượng.

Thương mại quốc tế tiếp tục là một động lực lớn. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 8 tháng đạt 770,14 tỷ USD, tăng 28,7%. Xuất khẩu tăng 22,4%, trong khi nhập khẩu tăng tới 35,3%.

Việc nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu khiến cán cân thương mại chuyển sang nhập siêu 20,46 tỷ USD. Tuy nhiên, cơ cấu nhập khẩu cho thấy hơn 94% kim ngạch là tư liệu sản xuất, gồm máy móc, thiết bị và nguyên, nhiên, vật liệu. Điều này phần nào phản ánh nhu cầu đầu vào đang tăng cùng quá trình mở rộng sản xuất.

Bài toán cuối năm là hấp thụ nguồn lực

Dòng vốn đầu tư tiếp tục bổ sung một động lực quan trọng cho nền kinh tế. FDI đăng ký 8 tháng đạt 40,6 tỷ USD, tăng 55,4%, trong đó vốn đăng ký cấp mới đạt 21,72 tỷ USD, tăng 96,8%. Công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 55,9% vốn đăng ký cấp mới.

Đáng chú ý, vốn FDI thực hiện đạt 17,3 tỷ USD, tăng 12% và là mức cao nhất trong cùng kỳ 5 năm. Khoảng cách giữa vốn đăng ký và vốn thực hiện vì thế vẫn là một chỉ báo cần theo dõi trong những tháng tới.

Nếu dòng vốn mới được triển khai đúng tiến độ, tác động sẽ không chỉ nằm ở số vốn đầu tư mà còn ở việc hình thành thêm năng lực sản xuất, tạo việc làm và mở rộng xuất khẩu. Ngược lại, chậm triển khai sẽ khiến một phần nguồn lực chưa thể chuyển thành tăng trưởng thực tế.

Đầu tư công cũng đang đứng trước yêu cầu tương tự. Giải ngân 8 tháng đạt khoảng 514,6 nghìn tỷ đồng, tăng 35,4% so với cùng kỳ nhưng mới bằng 45,9% kế hoạch năm. Phần vốn còn lại là dư địa lớn để tạo thêm lực đẩy cho tăng trưởng trong quý IV, song đồng thời tạo áp lực lớn về tiến độ.

Mục tiêu giải ngân 100% kế hoạch vốn năm 2026 đòi hỏi các bộ, ngành và địa phương phải đẩy nhanh thi công, xử lý vướng mắc về thủ tục, mặt bằng và vật liệu. Khi vốn đầu tư công được đưa vào nền kinh tế đúng tiến độ, tác động sẽ lan sang xây dựng, sản xuất vật liệu, vận tải và nhiều ngành dịch vụ.

Cùng với tài khóa, chính sách tiền tệ tiếp tục được điều hành theo hướng hỗ trợ tăng trưởng nhưng kiểm soát rủi ro. Tín dụng được định hướng vào sản xuất, xuất khẩu, công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ và các lĩnh vực có khả năng tạo động lực mới.

Như vậy, vấn đề của những tháng cuối năm không còn đơn thuần là “có nguồn lực hay không”, mà là khả năng hấp thụ và chuyển hóa nguồn lực. Với FDI, đó là chuyển vốn đăng ký thành dự án và năng lực sản xuất. Với đầu tư công, đó là chuyển kế hoạch vốn thành công trình và khối lượng thực hiện. Với tín dụng, đó là chuyển dòng tiền thành đơn hàng, sản lượng và doanh thu.

Trong khi đó, sức cầu và sản xuất đang tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển hóa này. Tiêu dùng tăng, công nghiệp tăng tốc, thương mại mở rộng và dòng vốn đầu tư cải thiện tạo nên thế liên kết giữa các động lực tăng trưởng.

Thu ngân sách 8 tháng cũng tạo thêm điểm tựa khi đạt khoảng 2.023,8 nghìn tỷ đồng, bằng 80% dự toán và tăng 16% so với cùng kỳ. Nguồn lực tài khóa được củng cố giúp tăng thêm khả năng thực hiện các chính sách hỗ trợ và nhiệm vụ phát triển trong những tháng còn lại.

Xa hơn, yêu cầu tăng trưởng không chỉ nằm ở việc duy trì tốc độ cao trong năm 2026 mà còn ở khả năng nâng năng suất. Việc thúc đẩy AI, chuyển đổi số, công nghệ và phát triển nguồn nhân lực đang mở thêm hướng đi cho tăng trưởng dựa nhiều hơn vào năng suất và giá trị gia tăng.

Bức tranh 8 tháng vì vậy đang cho thấy một nền kinh tế có nhiều động lực cùng chuyển động. Nhưng để tạo ra bước tăng trưởng mạnh trong quý IV, điều quyết định sẽ là tốc độ biến những nguồn lực đó thành kết quả thực tế.

Nam Sơn (t/h)