Theo báo cáo tháng 8/2026 của FiinGroup, DNVVN chiếm khoảng 94% tổng số doanh nghiệp tại Việt Nam, tương đương khoảng 914.000 doanh nghiệp. Khu vực này sử dụng khoảng 6,6 triệu lao động nhưng chỉ đóng góp dưới 20% doanh thu toàn nền kinh tế và khoảng 8% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu.
Đáng chú ý, chỉ khoảng 8,8% DNVVN tiếp cận được vốn vay, giảm 0,5 điểm phần trăm so với năm 2025. Trong khi đó, tỷ lệ này ở nhóm doanh nghiệp lớn lên tới 47,1%. Khoảng cách cho thấy bài toán của DNVVN không đơn thuần nằm ở nhu cầu vốn, mà còn ở khả năng đáp ứng các điều kiện để được ngân hàng cấp tín dụng.
Không phải doanh nghiệp nhỏ nào cũng thiếu sức khỏe tài chính
Một trong những điểm đáng chú ý từ dữ liệu FiinGroup là nhóm doanh nghiệp chưa vay vốn không đồng nghĩa với nhóm doanh nghiệp yếu kém. Gần 90% DNVVN trong mẫu chưa ghi nhận nợ vay, nhưng trong số đó vẫn tồn tại một lượng đáng kể doanh nghiệp có nền tảng hoạt động tương đối tích cực.

Các tổ chức tín dụng thường ưu tiên doanh nghiệp có lịch sử hoạt động đủ dài, bởi nhóm này có dữ liệu tài chính rõ ràng hơn và khả năng đánh giá rủi ro thuận lợi hơn. Gần 85% DNVVN đang vay vốn có thời gian hoạt động từ 5 năm trở lên.
Trong khi đó, FiinGroup ước tính khoảng 45% doanh nghiệp hoạt động trên 5 năm, có mức rủi ro từ trung bình đến thấp nhưng vẫn chưa tiếp cận được vốn vay. Đây chính là khoảng trống đáng chú ý nhất của thị trường tín dụng.
Trong khoảng 222.000 doanh nghiệp hoạt động trên 5 năm nhưng chưa vay vốn, 47,8% có dòng tiền từ hoạt động kinh doanh dương và 59% có tăng trưởng doanh thu dương. Đặc biệt, khoảng 67.000 doanh nghiệp đồng thời có cả dòng tiền kinh doanh và tăng trưởng doanh thu dương.
Nhóm này cho thấy một thực tế: rào cản tín dụng không phải lúc nào cũng xuất phát từ khả năng trả nợ yếu. Một số doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh, doanh thu và dòng tiền tương đối tốt nhưng chưa được kết nối với nguồn vốn phù hợp.
Theo đánh giá của các chuyên gia thị trường, đây là nhóm khách hàng mà ngân hàng có thể nghiên cứu sâu hơn thay vì áp dụng cách tiếp cận đồng nhất đối với toàn bộ khu vực DNVVN. Việc phân loại theo dòng tiền, lịch sử hoạt động, doanh thu và mức độ rủi ro có thể giúp mở rộng tín dụng mà không làm suy giảm chất lượng tài sản.
Ngành thương mại là một ví dụ. Toàn ngành có khoảng 275.000 doanh nghiệp, trong đó phần lớn là DNVVN. Tuy nhiên, chưa đến 10% DNVVN trong lĩnh vực này tiếp cận được vốn vay. Trong số những doanh nghiệp chưa vay, vẫn có một bộ phận thuộc nhóm rủi ro thấp và trung bình.
Dù biên lợi nhuận gộp trung vị của ngành đạt 11,6%, chất lượng dòng tiền vẫn là điểm cần lưu ý khi tỷ lệ doanh nghiệp có dòng tiền kinh doanh dương chỉ ở mức 23,4%. Điều này cho thấy mở rộng tín dụng cần đi cùng với khả năng đánh giá chính xác sức khỏe tài chính của từng doanh nghiệp.
Tín dụng phải trở thành đòn bẩy để doanh nghiệp lớn lên
Khoảng cách tiếp cận vốn còn đáng chú ý hơn khi nhìn vào khả năng nâng quy mô của doanh nghiệp. Theo FiinGroup, năm 2026 có gần 43.000 doanh nghiệp nâng quy mô, cao hơn năm trước. Phần lớn động lực đến từ nhóm doanh nghiệp siêu nhỏ chuyển lên DNVVN.
Tuy nhiên, tỷ lệ DNVVN chuyển lên nhóm doanh nghiệp lớn vẫn chỉ dao động khoảng 0,7-0,9% qua các năm. Năm 2026, số DNVVN chuyển thành doanh nghiệp lớn được ghi nhận khoảng 7.200 doanh nghiệp, tăng nhẹ so với cùng kỳ.
Những con số này phản ánh một điểm nghẽn quan trọng của khu vực doanh nghiệp tư nhân: doanh nghiệp có thể tồn tại, thậm chí tăng trưởng, nhưng rất khó tạo bước nhảy về quy mô.
Vốn tín dụng vì thế không chỉ nên được nhìn dưới góc độ hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua thiếu hụt dòng tiền. Quan trọng hơn, tín dụng cần trở thành công cụ giúp doanh nghiệp đầu tư máy móc, mở rộng sản xuất, nâng năng lực quản trị, tham gia chuỗi cung ứng và tiếp cận các thị trường lớn hơn.
Các chuyên gia cho rằng, trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, việc mở rộng tín dụng cho DNVVN cần chuyển từ tư duy “cho vay theo quy mô” sang “cho vay theo khả năng phát triển”. Doanh nghiệp nhỏ không nhất thiết đồng nghĩa với rủi ro cao, cũng như doanh nghiệp lớn không mặc nhiên là khách hàng an toàn.
Một hệ thống tín dụng có khả năng nhận diện đúng những doanh nghiệp đang có dòng tiền tốt, doanh thu tăng trưởng và lịch sử hoạt động đủ dài sẽ tạo ra dư địa lớn để mở rộng thị trường mà vẫn kiểm soát được rủi ro.
Nếu dòng vốn tiếp tục tập trung vào nhóm doanh nghiệp đã có quy mô lớn và lịch sử tín dụng dày, khoảng cách giữa doanh nghiệp lớn với DNVVN sẽ khó được thu hẹp. Ngược lại, nếu hàng trăm nghìn doanh nghiệp có nền tảng tốt nhưng đang đứng ngoài tín dụng được kết nối đúng với nguồn vốn, hiệu ứng tạo ra có thể lớn hơn nhiều so với việc chỉ tăng thêm dư nợ.
Khi đó, bài toán tín dụng DNVVN không còn đơn thuần là “khơi thông vốn”, mà trở thành câu chuyện tạo thêm những doanh nghiệp đủ sức lớn lên, mở rộng đầu tư và đóng góp nhiều hơn cho nền kinh tế.
Minh Thành (t/h)























