Một tín hiệu đáng chú ý là thương vụ Jollibee Foods Corporation chuyển nhượng 11% vốn tại CTCP SF Vũng Tàu cho CTCP Quốc tế Việt Thái với giá trị khoảng 2.300 tỷ đồng. Sau giao dịch, Việt Thái nâng sở hữu lên 51%, trong khi Jollibee còn 49%. Thương vụ định giá vốn chủ sở hữu Highlands Coffee khoảng 800 triệu USD, cho thấy sức hút của những thương hiệu F&B có quy mô lớn vẫn được duy trì.

Ở quy mô toàn thị trường, hoạt động kinh doanh cũng đang dần ổn định. Theo iPOS.vn, 6 tháng đầu năm 2026, Việt Nam có khoảng 329.200 cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, gần như không thay đổi so với cuối năm 2025. Doanh thu thị trường ước đạt 432.700 tỷ đồng, tăng 6,55% so với cùng kỳ.

Mở rộng không còn là cuộc chơi của số lượng

Hơn một nửa doanh nghiệp F&B được khảo sát có kế hoạch mở thêm cửa hàng hoặc mở rộng quy mô trong những tháng cuối năm. Tuy nhiên, tốc độ mở rộng đang phải đặt cạnh một thực tế khác: chi phí vận hành tiếp tục là sức ép lớn.

Dòng vốn trở lại tạo thêm dư địa mở rộng cho ngành F&B, nhưng kiểm soát nguyên liệu, tồn kho và chi phí vận hành đang trở thành yếu tố quyết định hiệu quả kinh doanh.
Dòng vốn trở lại tạo thêm dư địa mở rộng cho ngành F&B, nhưng kiểm soát nguyên liệu, tồn kho và chi phí vận hành đang trở thành yếu tố quyết định hiệu quả kinh doanh.

Theo Vietnam Report, 88,9% doanh nghiệp F&B được khảo sát xem chi phí vận hành gia tăng là trở ngại lớn nhất. Biến động giá nông sản, nguyên vật liệu được 85,3% doanh nghiệp đề cập, trong khi cạnh tranh gay gắt chiếm 77,8%. Chỉ số giá dịch vụ vận tải, kho bãi cũng tăng 7,26%, tạo thêm áp lực lên các chuỗi có mạng lưới cửa hàng lớn.

Trong bối cảnh đó, tăng giá bán không phải lúc nào cũng là lời giải. Giá cao có thể làm giảm sức mua, trong khi giữ giá lại khiến biên lợi nhuận bị thu hẹp. Theo các chuyên gia, doanh nghiệp cần chuyển trọng tâm từ “bán nhiều hơn” sang “vận hành hiệu quả hơn”, đặc biệt ở những khâu ít được nhìn thấy như tồn kho, hao hụt, phân bổ nhân sự và giao nhận.

Với chuỗi nhiều điểm bán, một tỷ lệ thất thoát nhỏ tại từng cửa hàng cũng có thể trở thành khoản chi đáng kể khi cộng dồn. Ngược lại, dự báo thiếu nguyên liệu có thể khiến doanh nghiệp phải mua bổ sung với giá cao hoặc phát sinh chi phí giao hàng khẩn cấp.

Bởi vậy, nguồn vốn mới nếu chỉ được dùng để mở thêm cửa hàng có thể chưa giải quyết được gốc rễ bài toán. Đầu tư vào hệ thống quản trị, chuỗi cung ứng và dữ liệu đang trở thành một hướng đi quan trọng hơn.

Dữ liệu và AI đi thẳng vào bài toán chi phí

Theo các chuyên gia, công nghệ đang tạo thêm công cụ để doanh nghiệp kiểm soát chi phí từ trước khi sản phẩm được đưa ra thị trường. Dữ liệu có thể hỗ trợ phân tích khẩu vị, dự báo nhu cầu, tối ưu công thức, lựa chọn nguyên liệu và đánh giá khả năng tiêu thụ.

Trong phát triển sản phẩm, việc dự báo chính xác hơn nhu cầu thị trường giúp giảm nguy cơ đầu tư vào những sản phẩm không phù hợp. Ở khâu vận hành, dữ liệu theo từng cửa hàng có thể giúp xác định món bán chạy, lượng nguyên liệu cần thiết, thời điểm bố trí nhân sự và tần suất giao hàng.

AI cũng có thể được ứng dụng để dự báo nhu cầu theo ngày, khu vực hoặc mùa vụ. Khi lượng nguyên liệu được tính toán sát hơn với sức bán thực tế, doanh nghiệp có thể giảm tồn kho, hao hụt và chi phí lưu trữ.

Với các chuỗi lớn, việc kết nối dữ liệu từ điểm bán, kho hàng và nhà cung cấp còn giúp tối ưu phân bổ nguyên liệu giữa các cửa hàng, hạn chế tình trạng nơi thừa, nơi thiếu. Đây là khoản tiết kiệm khó nhìn thấy trên doanh thu nhưng tác động trực tiếp đến lợi nhuận.

Theo các chuyên gia, công nghệ không thể thay thế hoàn toàn kinh nghiệm vận hành. Giá trị nằm ở việc kết hợp dữ liệu với năng lực chuyên môn để đưa ra quyết định nhanh và chính xác hơn.

Những tháng cuối năm vì thế sẽ là phép thử đối với ngành F&B. Khi sức mua tăng, cơ hội tăng doanh thu mở rộng nhưng chi phí cũng đồng thời gia tăng. Trong cuộc đua mới, doanh nghiệp không chỉ cần vốn để phát triển mà còn phải có năng lực biến nguồn vốn đó thành hiệu quả vận hành. Với F&B, giữ được bao nhiêu sau mỗi đơn hàng sẽ quan trọng không kém bán được bao nhiêu.

Nam Sơn (t/h)