Kết nối nguồn lực, mở rộng không gian tăng trưởng
Với hơn 3.260 km bờ biển, Việt Nam có nhiều lợi thế phát triển cảng biển, logistics, công nghiệp, du lịch và năng lượng. Tuy nhiên, lợi thế tự nhiên chỉ thực sự trở thành động lực kinh tế khi các lĩnh vực được kết nối hiệu quả, nguồn vốn được phân bổ đúng trọng tâm và hạ tầng phát huy giá trị tổng thể.
Đây cũng là vấn đề được đặt ra trong Chương trình hành động số 15-CTr/ĐU, do Đảng ủy Bộ Tài chính ban hành nhằm thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, cùng chương trình hành động của Bộ Chính trị.
Điểm đáng chú ý là yêu cầu huy động và sử dụng nguồn lực không tách rời mục tiêu tổ chức lại không gian kinh tế biển. Theo định hướng đến năm 2030, khu vực các tỉnh, thành phố ven biển đóng góp trên 70% GDP cả nước, với tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân hằng năm trên 11%.

Để hiện thực hóa mục tiêu này, bài toán không chỉ nằm ở quy mô vốn đầu tư mà còn ở khả năng phối hợp giữa các dự án. Cảng biển cần gắn với hệ thống giao thông và logistics; khu công nghiệp cần kết nối với sản xuất, thương mại và xuất khẩu; các đô thị ven biển phải phát triển đồng bộ với dịch vụ và hạ tầng thiết yếu.
Chương trình hành động cũng hướng tới hình thành 5-6 trung tâm kinh tế biển mạnh và 3 khu kinh tế đặc biệt. Đây được kỳ vọng là những hạt nhân thu hút đầu tư, thúc đẩy liên kết vùng và hình thành các chuỗi giá trị có sức cạnh tranh.
Trong bối cảnh đó, chính sách tài chính cần góp phần định hướng dòng vốn vào những lĩnh vực có khả năng tạo tác động lan tỏa, hạn chế đầu tư phân tán và nâng hiệu quả khai thác hạ tầng. Mục tiêu đưa chi phí logistics xuống dưới 12% GDP càng cho thấy yêu cầu nâng chất lượng kết nối, giúp doanh nghiệp giảm chi phí và tăng năng lực cạnh tranh.
Tăng trưởng kinh tế biển phải đi cùng phát triển bền vững
Không gian kinh tế biển đang mở rộng từ các hoạt động truyền thống sang những lĩnh vực gắn với công nghệ và hạ tầng số. Chương trình hành động số 15-CTr/ĐU đặt mục tiêu phát triển chuỗi công nghiệp, dịch vụ phục vụ thiết kế, thi công, lắp đặt, vận hành và bảo trì hạ tầng cáp ngầm biển dung lượng lớn, tốc độ cao; đồng thời thúc đẩy phát triển các trung tâm dữ liệu.
Định hướng này mở ra khả năng kết nối kinh tế biển với thương mại điện tử, dịch vụ số và các ngành kinh tế dựa trên dữ liệu. Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả, đầu tư hạ tầng số cần được đặt trong tổng thể quy hoạch, bảo đảm khả năng kết nối và khai thác lâu dài.
Cùng với hiệu quả kinh tế, chất lượng môi trường và đời sống cư dân ven biển cũng là những tiêu chí quan trọng. Đến năm 2030, mục tiêu đặt ra là 100% khu công nghiệp, khu đô thị và cụm công nghiệp - dịch vụ - đô thị biển có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt quy chuẩn.
Việc dành nguồn lực cho xử lý nước thải, bảo vệ môi trường và hạ tầng thiết yếu vì thế cần được xem là một phần của đầu tư phát triển. Nếu tăng trưởng đi kèm ô nhiễm và suy giảm chất lượng sống, lợi ích kinh tế trước mắt có thể phải đánh đổi bằng chi phí khắc phục lâu dài.
Chương trình cũng hướng tới bảo đảm 100% cư dân trên các đảo có dân cư sinh sống được tiếp cận điện, nước sạch, Internet băng rộng, y tế và giáo dục. Đây là nền tảng để cải thiện đời sống người dân, thu hút nhân lực và duy trì sức sống cho các cộng đồng kinh tế biển.
Để các mục tiêu đi vào thực tế, Chương trình hành động yêu cầu phân công rõ trách nhiệm, nguồn lực và tiến độ; đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, kịp thời nhận diện những nhiệm vụ chậm tiến độ hoặc thiếu nguồn lực.
Hiệu quả phát triển kinh tế biển vì vậy không chỉ được đo bằng vốn đầu tư hay tốc độ tăng trưởng, mà còn ở khả năng hình thành chuỗi giá trị liên kết, nâng sức cạnh tranh và cải thiện đời sống người dân. Phân bổ nguồn lực đúng hướng sẽ là một trong những yếu tố quyết định khả năng chuyển lợi thế biển thành động lực tăng trưởng dài hạn.
Minh Thành (t/h)























