Cụ thể, theo Cục Thuế, Bộ Tài chính, mục tiêu của đề án là “làm sạch” cơ sở dữ liệu. Đây là tiền đề cốt yếu để xác định đúng nghĩa vụ thực tế. Việc phân loại nợ theo trạng thái hoạt động của người nộp thuế (đang hoạt động, bỏ địa chỉ kinh doanh...) sẽ giúp cơ quan Thuế có “ứng xử” phù hợp cho từng nhóm đối tượng. Công tác này không chỉ là nhiệm vụ của cán bộ thuế mà còn cần sự tương tác chủ động từ người dân thông qua các ứng dụng như eTax, eTax Mobile để đối chiếu và xác nhận thông tin nợ.
Bên cạnh đó, thay vì quản lý dàn trải, hệ thống sẽ ứng dụng AI và Big Data để tự động chấm điểm, xếp hạng mức độ tuân thủ của người nộp thuế. Dựa trên mức độ rủi ro tuân thủ, những đặc thù riêng biệt của từng nhóm, từng đối tượng, hệ thống tự động hỗ trợ cơ quan Thuế thiết lập các hành vi ứng xử, biện pháp xử lý phù hợp, như: Hỗ trợ, ưu tiên đối với nhóm người nộp thuế có lịch sử tuân thủ, rủi ro thấp, giám sát đặc biệt hoặc cưỡng chế đối với nhóm người nộp thuế có lịch sử không tuân thủ, có rủi ro cao hơn. Từ đó, nâng cao hiệu quả công tác đôn đốc thu hồi nợ đọng, tối ưu nguồn lực, đồng thời góp phần giảm thiểu rủi ro và nâng cao tính tuân thủ.

Việc triển khai hệ thống hỗ trợ tự động với phương châm “lấy người nộp thuế làm trung tâm phục vụ”, ngành Thuế sẽ thay đổi phương thức tương tác thông qua các công cụ tự động như Voicebot, Chatbot để thay đổi căn bản phương thức tương tác, đôn đốc người nộp thuế, chuyển từ hình thức thủ công sang cơ chế hỗ trợ tự động, chính xác, nhất quán và có khả năng hoạt động liên tục.
Hệ thống hỗ trợ tự động đôn đốc người nộp thuế để chủ động nắm bắt thông tin, kịp thời hoàn thành nghĩa vụ với ngân sách nhà nước như: tự động gọi điện thoại nhắc nợ; tự động gửi thông báo nợ định kỳ và cảnh báo sớm các trường hợp nợ thuế phát sinh mới, tăng bất thường cho người nộp thuế để tiếp cận thông tin sớm, chủ động nguồn tài chính và tránh để rơi vào tình trạng nợ kéo dài ảnh hưởng đến lịch sử tuân thủ.
Ngoài ra, một bộ chỉ số với 6 tiêu chí then chốt sẽ được áp dụng để đánh giá đa chiều hiệu quả công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế bao gồm các chỉ tiêu định lượng (biến động nợ theo thời gian, chất lượng quản lý nợ xấu trên 1 năm, khả năng xử lý nợ tồn đọng, hiệu lực các biện pháp cưỡng chế, tỷ lệ thực hiện tạm hoãn xuất cảnh, tỷ lệ nợ trên tổng thu ngân sách).
Về lộ trình cải cách, Cục Thuế cho biết, năm 2026 sẽ tập trung rà soát, làm sạch dữ liệu và tái thiết kế quy trình nghiệp vụ; xây dựng quy trình phản hồi thông tin giữa người nộp thuế và cơ quan thuế để người nộp thuế, chủ động rà soát và phối hợp với cơ quan thuế làm sạch dữ liệu. Kiểm đếm kết quả làm sạch dữ liệu nợ, đôn đốc thu hồi với đánh giá hiệu quả công tác quản lý nợ.
Đến năm 2027 sẽ xây dựng và vận hành hệ thống quản lý phân loại nợ thuế tự động dựa trên đánh giá rủi ro tuân thủ và bộ chỉ số đánh giá đa chiều công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế, gắn với kết quả đầu ra cụ thể.
Cục Thuế chũng cho hay, đề án “Cải cách, hiện đại hóa công tác quản lý nợ thuế” thể hiện mục tiêu của ngành Thuế trong việc chuyển đổi từ mô hình quản lý nợ truyền thống sang mô hình quản lý hiện đại, dựa trên dữ liệu, rủi ro và công nghệ số. Việc triển khai thành công Đề án sẽ góp phần nâng cao hiệu quả thu ngân sách nhà nước, tăng cường kỷ cương tài chính, đồng thời xây dựng hình ảnh ngành Thuế chuyên nghiệp, minh bạch và thân thiện với người nộp thuế.
Cục Thuế cũng cho biết, giai đoạn 2021- 2025 do tác động từ đại dịch Covid-19, thiên tai và những bất ổn của kinh tế thế giới đã khiến dòng tiền của doanh nghiệp bị đứt gãy, dẫn đến nhiều doanh nghiệp rơi vào thua lỗ, mất khả năng thanh toán tạm thời.
Đặc biệt, những vướng mắc pháp lý trong việc xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai từ phía các cơ quan có thẩm quyền chưa được giải quyết dứt điểm đã khiến các khoản nợ này “treo” lại qua nhiều năm, buộc cơ quan thuế phải tiếp tục theo dõi, đôn đốc dù thực tế gặp nhiều khó khăn trong xử lý dẫn đến số tiền nợ thuế của các khoản thu từ đất vẫn ở mức cao và ngày càng tăng.
Về chủ quan, phương thức quản lý nợ hiện nay vẫn chủ yếu vẫn mang tính thủ công, phân tán và thiếu tích hợp các thông tin trong khi số lượng người nộp thuế lớn (số lượng người nộp thuế nợ các khoản tiền nợ nhỏ dưới 100.000 đồng chiếm 30% số người nợ thuế nhưng chỉ chiếm 0,3% tổng số tiền thuế nợ). Điều này làm gia tăng áp lực đối với công tác quản lý nợ thuế.
Bên cạnh đó, hệ thống công nghệ thông tin dù đã được nâng cấp nhưng còn thiếu đồng bộ. Đặc biệt, cơ sở dữ liệu nợ thuế sau nhiều năm tích lũy vẫn chưa được làm sạch triệt để, dẫn đến khó khăn cho cả người nộp thuế và cán bộ quản lý.
Tuấn Ngọc

























