Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 40/2026/QĐ-TTg quy định tiêu chí phân loại doanh nghiệp để thực hiện cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn nhà nước. Quyết định có hiệu lực từ ngày 5/8/2026.
Theo quy định mới, việc Nhà nước tiếp tục nắm giữ vốn, duy trì tỷ lệ sở hữu hay thực hiện thoái vốn sẽ được đặt trong mối liên hệ với chức năng và vai trò của từng doanh nghiệp. Đây là cơ sở để các cơ quan đại diện chủ sở hữu xây dựng kế hoạch sắp xếp, cơ cấu lại vốn nhà nước theo từng giai đoạn.
Cách tiếp cận này tạo ra sự phân hóa rõ hơn giữa những doanh nghiệp mà Nhà nước cần trực tiếp kiểm soát với những doanh nghiệp có thể giảm tỷ lệ sở hữu hoặc không tiếp tục nắm vốn.

Giữ vốn ở lĩnh vực thiết yếu, giảm sở hữu ở nơi thị trường có thể đảm nhiệm
Một trong những nội dung quan trọng của Quyết định 40 là xác lập các nhóm doanh nghiệp theo khung tỷ lệ vốn nhà nước, thay vì chỉ tập trung vào việc doanh nghiệp có phải là doanh nghiệp nhà nước hay không.
Ở nhóm Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, trọng tâm là những lĩnh vực gắn với cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu, độc quyền tự nhiên, công nghệ cao, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Các doanh nghiệp xây dựng công trình kết cấu hạ tầng trọng điểm, quan trọng quốc gia trong lĩnh vực giao thông, thủy lợi, năng lượng, hạ tầng số cũng thuộc nhóm này. Bên cạnh đó là các doanh nghiệp hoạt động trong những lĩnh vực then chốt, thiết yếu của nền kinh tế.
Cách phân loại cho thấy yêu cầu giữ quyền kiểm soát được đặt cao hơn đối với những lĩnh vực mà việc thay đổi chủ sở hữu có thể tác động trực tiếp đến cung ứng dịch vụ thiết yếu, hạ tầng hoặc các lợi ích chiến lược.
Trong khi đó, với một số lĩnh vực có tính chất đặc thù nhưng không nhất thiết phải duy trì sở hữu tuyệt đối, Nhà nước có thể nắm giữ từ 65% vốn điều lệ trở lên.
Nhóm này bao gồm quản lý, khai thác cảng hàng không, sân bay; vận chuyển hàng không; quản lý, khai thác bến cảng tại cảng biển đặc biệt; khai thác khoáng sản quy mô lớn; tài chính, ngân hàng; cơ khí chế tạo; khai thác và cung cấp nước sạch, thoát nước đô thị, nông thôn cùng một số lĩnh vực khác.
Một tầng thấp hơn là các doanh nghiệp mà Nhà nước nắm trên 50% đến dưới 65% vốn điều lệ. Quyết định áp dụng đối với một số lĩnh vực có vai trò nhất định đối với cân đối lớn của nền kinh tế, hạ tầng viễn thông quốc gia hoặc hoạt động tìm kiếm, thăm dò, đánh giá trữ lượng khoáng sản.
Đáng chú ý, với những doanh nghiệp không thuộc danh mục ngành, lĩnh vực nêu trên nhưng có tính chất đặc thù, Nhà nước vẫn có thể xem xét duy trì vốn dựa trên các tiêu chí cụ thể.
Chẳng hạn, doanh nghiệp sản xuất xi măng chiếm thị phần từ 30% trở lên và có khai thác mỏ nguyên liệu tại địa bàn trọng yếu về quốc phòng, an ninh; doanh nghiệp cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích có tỷ trọng doanh thu từ hoạt động công ích đạt từ 50% trở lên trong 3 năm liên tiếp; hoặc doanh nghiệp có giá trị văn hóa, lịch sử, kiến trúc, thương hiệu quốc gia hay đóng vai trò quan trọng đối với quốc phòng, an ninh.
Như vậy, thay vì áp dụng một công thức cứng cho toàn bộ khu vực doanh nghiệp có vốn nhà nước, quyết định mới hướng tới nguyên tắc: Lĩnh vực càng thiết yếu, mức độ kiểm soát của Nhà nước càng cao; những lĩnh vực không còn thuộc diện cần nắm giữ sẽ có dư địa để cơ cấu lại vốn.
Cơ cấu lại vốn gắn với hiệu quả và trách nhiệm bảo toàn vốn
Điểm quan trọng tiếp theo của Quyết định 40/2026/QĐ-TTg là việc phân loại không chỉ nhằm xác định tỷ lệ sở hữu, mà còn trở thành căn cứ để xây dựng và thực hiện kế hoạch cơ cấu lại vốn nhà nước.
Theo đó, doanh nghiệp có thể tiếp tục giữ nguyên tỷ lệ vốn Nhà nước đang nắm giữ hoặc thực hiện các hình thức cơ cấu lại theo Nghị định số 57/2026/NĐ-CP và các quy định pháp luật có liên quan.
Nguyên tắc xuyên suốt là tỷ lệ vốn sau cơ cấu lại phải nằm trong khung được xác định đối với từng nhóm doanh nghiệp.
Đối với doanh nghiệp không thuộc các ngành, lĩnh vực trong danh mục nhưng đáp ứng tiêu chí đặc thù, nếu Nhà nước đang nắm trên 50% vốn điều lệ thì tiếp tục bảo đảm trong khung sở hữu trên 50%.
Trường hợp Nhà nước chỉ nắm từ 50% vốn điều lệ trở xuống, phần vốn này có thể được chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu cho doanh nghiệp có chức năng đầu tư, kinh doanh vốn nhà nước hoặc doanh nghiệp nhà nước cùng ngành nghề để quản lý, đầu tư, tái cơ cấu, bổ sung vốn hoặc thoái vốn theo quy định.
Đáng chú ý, với doanh nghiệp hoạt động trong những ngành, lĩnh vực không thuộc tiêu chí phân loại, định hướng là Nhà nước không tiếp tục nắm giữ vốn, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác.
Quy định này tạo ra cơ sở rõ hơn cho việc xử lý tình trạng vốn nhà nước phân tán tại những lĩnh vực mà Nhà nước không nhất thiết phải trực tiếp sở hữu. Thay vì duy trì vốn theo cơ chế bình quân, việc tiếp tục nắm giữ hay thoái vốn được đặt trong yêu cầu đánh giá lại vai trò và hiệu quả của từng doanh nghiệp.
Đối với doanh nghiệp hoạt động đa ngành, việc xác định tỷ lệ sở hữu cũng không dựa trên một ngành nghề bất kỳ. Khung vốn nhà nước được xác định theo ngành, lĩnh vực có tỷ trọng lớn nhất về tổng sản lượng hoặc tổng doanh thu trong 3 năm liên tiếp liền kề trước thời điểm phê duyệt kế hoạch cơ cấu lại vốn nhà nước giai đoạn 5 năm.
Nếu cơ cấu hoạt động thay đổi trong quá trình thực hiện, cấp có thẩm quyền có thể điều chỉnh kế hoạch 5 năm để phù hợp với thực tế.
Một cơ chế kiểm soát cũng được đặt ra đối với những trường hợp đặc biệt. Cơ quan đại diện chủ sở hữu phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định nếu muốn thực hiện cơ cấu lại vốn khác với khung tỷ lệ; giảm sở hữu nhà nước xuống dưới 50% tại doanh nghiệp thuộc diện phải duy trì trên 50%; hoặc tiếp tục giữ vốn tại doanh nghiệp không thuộc tiêu chí phân loại.
Về tổng thể, Quyết định 40/2026/QĐ-TTg đặt yêu cầu cơ cấu lại vốn nhà nước trong mối quan hệ chặt chẽ hơn với hiệu quả kinh doanh, năng lực cạnh tranh và khả năng bảo toàn, phát triển vốn.
Đồng thời, việc sắp xếp lại danh mục vốn cũng hướng tới hạn chế tình trạng đầu tư dàn trải, lãng phí và nguy cơ thất thoát vốn, tài sản nhà nước.
Nếu được triển khai đúng tinh thần, khung phân loại mới có thể giúp nguồn lực nhà nước tập trung hơn vào những lĩnh vực thực sự cần thiết, trong khi tạo thêm không gian cho khu vực tư nhân tham gia ở những lĩnh vực thị trường có khả năng đảm nhiệm. Đây cũng là cơ sở để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhà nước và thúc đẩy quá trình cơ cấu lại khu vực doanh nghiệp có vốn nhà nước theo hướng thực chất hơn.
Minh Thành (t/h)





















