Không để thủ tục làm gián đoạn khai thác
Thảo luận về dự án Luật Dầu khí (sửa đổi) tại Kỳ họp không thường lệ lần thứ nhất, nhiều ý kiến đại biểu tập trung vào cách thiết kế cơ chế đủ linh hoạt để hoạt động khai thác không bị gián đoạn, nhất là với các mỏ ở giai đoạn cuối vòng đời.
Theo đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn (Hải Phòng), một trong những vấn đề cần được tính toán kỹ là cơ chế đối với các mỏ khai thác tận thu. Dự thảo quy định 2 năm trước khi hợp đồng hết hạn, nếu nhà thầu không trình đề xuất đầu tư bổ sung, Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam có thể lựa chọn phương án ký hợp đồng mới. Trường hợp còn tối thiểu 3 tháng mà dự kiến chưa thể ký kết, Tập đoàn mới chuẩn bị phương án tiếp quản.
Đại biểu cho rằng các mốc thời gian này có thể chưa phù hợp với thực tế. Quá trình lựa chọn nhà thầu, đàm phán, thẩm định, phê duyệt hợp đồng và hoàn tất các thủ tục đầu tư có thể kéo dài hơn thời gian dự kiến.

Đối với các mỏ cuối đời, rủi ro càng lớn bởi áp suất vỉa thấp, trữ lượng còn lại hạn chế và hiệu quả kinh tế giảm dần. Chỉ một khoảng thời gian gián đoạn cũng có thể làm chi phí khôi phục khai thác tăng mạnh, thậm chí khiến phần tài nguyên còn lại không còn đủ hiệu quả để tiếp tục khai thác.
Từ đó, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn đề nghị đặt nguyên tắc bảo đảm tính liên tục của hoạt động khai thác lên hàng đầu. Phương án tiếp quản cần được chuẩn bị song song ngay khi xác định phương án xử lý, thay vì chỉ bắt đầu khi hợp đồng sắp hết hạn.
Cách tiếp cận này không chỉ nhằm tạo thuận lợi cho doanh nghiệp mà còn liên quan trực tiếp đến hiệu quả sử dụng tài nguyên. Trong ngành dầu khí, phần tài nguyên còn lại ở các mỏ cuối đời thường đòi hỏi giải pháp kỹ thuật và chi phí cao hơn. Nếu cơ chế pháp lý không đủ linh hoạt, tài nguyên có thể bị bỏ lại chỉ vì quá trình chuyển tiếp giữa các nhà thầu không kịp thời.
Một yêu cầu khác được đặt ra là thay đổi cách xác định những trường hợp phải điều chỉnh kế hoạch phát triển mỏ. Theo đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn, thay vì kiểm soát chủ yếu thông qua danh mục hạng mục hoặc ngưỡng tăng tổng mức đầu tư, cần chú trọng hơn đến mức độ trọng yếu của thay đổi.
Chỉ những điều chỉnh làm thay đổi đáng kể mục tiêu phát triển mỏ, trữ lượng có thể thu hồi, hệ số thu hồi, yêu cầu về an toàn, môi trường hoặc hiệu quả kinh tế mới cần trình cấp có thẩm quyền điều chỉnh. Với các thay đổi kỹ thuật nằm trong phạm vi đã được phê duyệt, doanh nghiệp và Tập đoàn cần được trao quyền chủ động hơn, đồng thời chịu trách nhiệm về quyết định của mình.
Đây chính là tinh thần chuyển từ quản lý bằng thủ tục sang quản trị theo hiệu quả và rủi ro. Khi quyền quyết định được phân cấp, trách nhiệm cũng phải được xác định tương ứng để tránh tình trạng doanh nghiệp có quyền hạn nhưng vẫn phải xin ý kiến qua nhiều tầng nấc.
Phân quyền phải đi cùng kiểm soát rủi ro
Một lĩnh vực mới được đặt ra trong dự thảo Luật là thu giữ, vận chuyển và lưu trữ carbon (CCS). Đây được xem là hướng đi có tiềm năng tận dụng các mỏ dầu khí đã suy giảm và hệ thống hạ tầng hiện hữu, đồng thời hỗ trợ mục tiêu giảm phát thải.
Tuy nhiên, khác với hoạt động khai thác thông thường, CCS có thể tạo ra nghĩa vụ giám sát và trách nhiệm kéo dài nhiều năm, thậm chí hàng chục năm sau khi hoạt động dầu khí kết thúc.
Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn vì vậy đề nghị dự thảo luật phải đặt ra nguyên tắc về ký quỹ, bảo đảm tài chính hoặc bảo hiểm trách nhiệm đối với hoạt động CCS. Mức cụ thể có thể giao Chính phủ quy định, nhưng nguyên tắc về trách nhiệm tài chính cần được xác lập ngay trong luật.
Điểm quan trọng ở đây là phân bổ rủi ro. Nếu doanh nghiệp được hưởng lợi từ việc khai thác, sử dụng hạ tầng hoặc thực hiện các dự án CCS nhưng không có cơ chế bảo đảm nghĩa vụ tài chính dài hạn, phần chi phí xử lý rủi ro trong tương lai có thể chuyển sang Nhà nước.
Song song với vấn đề này là yêu cầu làm rõ vai trò của Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam trong mô hình quản trị mới.
Đại biểu Trịnh Xuân An (Đồng Nai) cho rằng, việc tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, phân quyền là cần thiết, nhưng dự thảo cần làm rõ hơn địa vị pháp lý của Tập đoàn khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của “nước chủ nhà”.
Theo đại biểu, cần tách bạch hai tư cách của Tập đoàn. Một là doanh nghiệp nhà nước trực tiếp tham gia đầu tư, sản xuất, kinh doanh. Hai là chủ thể được Nhà nước giao thực hiện quyền và nghĩa vụ của nước chủ nhà theo Luật Dầu khí.
Hai vai trò này có mục tiêu, trách nhiệm và cơ chế kiểm soát khác nhau. Nếu không được phân định rõ, nguy cơ xung đột giữa vai trò quản lý, đại diện quyền lợi Nhà nước và vai trò của một doanh nghiệp tham gia thị trường có thể phát sinh.
Do đó, đại biểu Trịnh Xuân An đề nghị bổ sung quy định nguyên tắc tại Điều 56, theo đó khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của nước chủ nhà, Tập đoàn phải thực hiện nhiệm vụ do Nhà nước giao, độc lập với hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và chịu sự quản lý, kiểm tra, giám sát theo quy định.
Đồng thời, mối quan hệ giữa Bộ Công Thương với Tập đoàn cũng cần được quy định rõ hơn, nhất là ranh giới giữa chức năng quản lý nhà nước, quyền của nước chủ nhà và các nhiệm vụ kỹ thuật.
Nhìn rộng hơn, những góp ý tại nghị trường cho thấy sửa Luật Dầu khí không chỉ nhằm tháo gỡ thủ tục để thu hút đầu tư. Vấn đề cốt lõi là xây dựng một cơ chế quản trị mới: doanh nghiệp được trao quyền chủ động hơn, nhưng phải chịu trách nhiệm rõ hơn; thủ tục được rút gọn, nhưng các tiêu chuẩn về an toàn, môi trường và hiệu quả tài nguyên phải được bảo đảm.
Một đạo luật phù hợp sẽ phải đồng thời giải quyết được hai yêu cầu tưởng như đối lập: Tạo đủ không gian để nhà đầu tư ra quyết định nhanh trước những biến động của hoạt động dầu khí, nhưng vẫn bảo đảm Nhà nước kiểm soát được tài nguyên, rủi ro và lợi ích quốc gia trong toàn bộ vòng đời dự án.
Minh Thành (t/h)





















